Hướng dẫn download tài liệu

Hướng dẫn download tài liệu

18,884 total views, no views today

Chọn tài liệu bạn muốn download
Nhập Name, Email rồi ấn “Send Download Link”

Link google drive của tài liệu sẽ được gửi ngay tới email của bạn.

Tất cả file đều để ở định dạng nén .zip. Bạn chỉ cần giải nén đơn giản không yêu cầu password.

Enjoy 😀

Read more

SANJIPPUN-SHIKA ARIMASEN KARA… : Tôi chỉ có 30 phút thôi, thế nên…

294 total views, no views today

三十分しか ありませんから…

Tôi chỉ có 30 phút thôi, thế nên…

Cách đây mấy ngày Yoshida có nhờ Lerner giúp việc gì đó. Hôm đó Lerner khá bận nên anh chỉ rảnh rỗi được khoảng 30 phút. Vốn không thích phải gấp gáp trong công việc, anh nói:

今日は三十分だけ ありますから...
Nghĩa là “Hôm nay tôi chỉ có 30 phút thôi, thế nên…” .

Anh mong Yoshida sẽ hiểu là anh không có thời gian để giúp cô, thế nhưng cô lại hỏi lại “やって くださるんですね” (Vậy anh sẽ giúp tôi phải không?). Khi Lerner nói anh rất bận và chỉ có thể giúp cô vào hôm sau, Yoshida quay về và trông có vẻ khó hiểu.
Anh Tanaka sau đó nói rằng Lerner đáng lẽ nên nói:

今日は三十分しか ありませんから...
Có nghĩa là hôm nay anh chỉ có khoảng 30 phút nên anh không thể giúp được.

Lerner cũng đã học cấu trúc “…shika + phủ định”, có nghĩa “chỉ có…” nhưng anh tưởng nó cũng giống “…dake + khẳng định” nên dùng nó khá thường xuyên.

Thực ra hai diễn đạt này không giống nhau; …だけ biểu thị một lượng chính xác, nghĩa là “không nhiều hơn và cũng không ít hơn”, trong khi đó …しか…ない ý rằng số lượng đề cập đến rất nhỏ đối với người nói. Thế nên khi ai đó nói “Sanjippun-shika arimasen-kara…”, người nghe ngay lập tức hiểu rằng thời gian rất giới hạn nên đề nghị của anh ta không thể thực hiện được. Ngược lại, nếu là “Sanjippun-dake arimasu-kara” thì nghĩa là người nói có chính xác 30 phút, không rõ ràng ý anh ta sẽ làm gì. Có thể anh ta muốn nói 30 phút là đủ để làm xong việc đó hoàn toàn, hoặc anh ta chỉ có thể làm một phần nào đó của kế hoạch. Sự khác biệt quan trọng giữa …dake aru và …shika…nai là “dake” không đưa ra chủ ý cụ thể nào và người nghe thường phải đợi người nói kết thúc câu mới hiểu được.

Sự khác biệt này cũng đúng khi nói về tiền bạc. Nói rằng “Juuman-en shika arimasen-kara” có nghĩa số tiền đó không đủ để thực hiện, trong khi “Juuman-en dake arimasu-kara” nghĩa là số tiền đó có thể dùng để làm gì đó, mặc dù không cụ thể ra.

Khi đề cập đến sự lưu loát trong tiếng Nhật, nếu bạn muốn nhấn mạnh rằng kiến thức của bạn còn rất nhỏ, bạn nên nói “日本語は少し しかできません” hơn là “日本語は少し だけ できます”. Hầu hết người Nhật sẽ thấy câu sau rất lạ vì họ không hiểu thực sự bạn muốn nói gì.

SUMIMASEN : Xin lỗi

218 total views, no views today

すみません

Xin lỗi

Thứ Bảy vừa rồi anh Lerner được mời đến dùng bữa tối ở nhà anh Takada, Anh mang theo ít kẹo cho con trai anh Takada. Khi anh đưa kẹo cho cậu bé, chị Takada nói:

Maa, doumo sumimasen.
nghĩa đen: Ôi, tôi rất xin lỗi

rồi bảo con trai cảm ơn anh. Cậu bé liền nói:

Ojisan, arigatou.
Cháu cảm ơn chú

sau đó cậu thêm “gozaimasu” vào cuối câu; có lẽ cậu đã được dạy rằng phải luôn lễ phép, lịch sự.

Khi Lerner mới học tiếng Nhật, anh đã nghĩ rằng Sumimasen chỉ mang nghĩa “Tôi xin lỗi” hoặc “Làm phiền anh một chút”, và băn khoăn tại sao người Nhật lại xin lỗi trong trường hợp họ nên cảm ơn mới phải. Giờ thì anh hiểu ra rằng, Sumimasen còn được dùng như một cách bày tỏ lòng biết ơn và nó còn được dùng thường xuyên, có khi là thường xuyên hơn Arigatou hay Arigatou gozaimasu. Nhưng anh vẫn chưa hiểu sự khác nhau giữa hai cách diễn đạt này khi dùng để biểu lộ sự biết ơn.

Sumimasen sẽ được dùng để bày tỏ lòng biết ơn khi ai đó cảm thấy rằng họ không xứng đáng được nhận lòng tốt hoặc họ không mong chờ lòng tốt ấy xảy ra. Khi anh Lerner đưa kẹo cho cậu bé, mẹ cậu nói Sumimasen bởi vì mẹ cậu đã không mong đợi lòng tốt này. Nếu cô ấy nói Arigatou gozaimasu thì nghe có vẻ như là cô ấy đã mong chờ việc anh Lerner cho con trai cô ấy kẹo. Bé trai thì con quá nhỏ để nhận thức điều này, nên bé chỉ nói:

Arigatou.
ありがとう。

Nhiều người Nhật cảm thấy Sumimasen nghe lịch sự hơn Arigatou (gozaimasu), nhưng sự khách nhau không đơn giản là chỉ ở mức độ lịch sự mà còn là ở thái độ tâm lý của người nói. Nó phụ thuộc vào việc người nói cảm thấy thế nào về sự giúp đỡ của người khác làm cho anh ta; và do đó anh ta sẽ chọn Sumimasen hoặc Arigatou (gozaimasu).

Giả sử rằng, bạn thấy ai đó đánh rơi đồ trên phố và bạn nhắc anh ấy. Trong trường hợp này, vài người sẽ dùng Sumimasen để cảm ơn bạn, trong khi có người lại dùng Arigatou (gozaimasu). Nhìn chung, phụ nữ và người già thường dùng Sumimasen, còn đàn ông và người trẻ tuổi lại thích dùng Arigatou (gozaimasu) hơn.

ATSUKU NATTAN DESUNE : Trời đã trở nên nóng đấy nhỉ

895 total views, no views today

暑くなったんですね。

(Trời đã trở nên nóng đấy nhỉ)

Gần đây anh Lerner có để tâm đến cách người Nhật kết thúc câu và nhận thấy rằng, họ dùng n-desu với mức độ thường xuyên như masu và desu vậy. Có nghĩa là, họ hay nói Itta-n desu và Isogashii-n-desu hơn là Ikimashita và Isogasgii-desu.
Sáng hôm qua, Lerner đã áp dụng cấu trúc này khi nói chuyện với anh Takada:

Atsuku natta-n-desu-ne.
với nghĩa: Thời tiết đã trở nên nóng nhỉ.

Anh Takada ngập ngừng một chút trước khi trả lời Soo-desu-ne. Có vẻ anh ấy đã cố hiểu xem ý Lerner là gì khi nói câu đó.
Sau chuyện này, Lerner bắt đầu chú ý lắng nghe cách mọi người nói về thời tiết, và thấy họ hay sử dụng:

Atsuku narimashita-ne.
暑くなりましたね。

hoặc
Kinou wa yoku furimashita-ne.
きのうはよく降りましたね。

trong khi Atsuku natta-n-desu-ne hoặc Kinou wa yoku futta-n-desu-ne lại không bao giờ được dùng khi mào đầu một cuộc hội thoại bằng cách đề cập đến thời tiết.

Atsuku narimashita-ne chỉ đơn giản là chỉ ra một sự thật, còn Atsuku natta-n-desu-ne lại bao hàm một tình huống cụ thể. Hàm ý trong câu này có thể là người nói nhận thấy một ai đó (bao gồm cả người nghe) đã chuyển sang mặc quần áo mùa hè; hoặc trông mệt mỏi, kiệt sức dưới cái nóng hoặc đang uống cốc nước mát. Nói cách khác, Atsuku natta-n-desu-ne có thể được hiểu là: “Đó là vì trời đã trở nên nóng đấy nhỉ (nên mới có những hành động kể trên).”

Câu kết thúc bằng n-desu-ka không được dùng để hỏi khi bắt đầu câu chuyện, trử khi có một tình huống cụ thể nào đó. Ví dụ, nếu bạn hỏi:

Isogashii-desu-ka.
Anh bận à?

thì bạn chỉ đang đơn giản là hỏi anh ấy có đang bận hay không mà thôi. Nhưng nếu bạn nói:

Isogashii-n-desu-ka.

thì nó có thể có nghĩa: “Anh trông mệt mỏi thế này có phải vì quá bận rộn không?” hay “Có phải anh quá bận đến nỗi không đi uống với chúng tôi được à?”, … tùy vào tình huống. Vì thế câu hỏi đuôi n-desu truyền tải nhiều cảm xúc khác nhau, từ quan tâm, ngạc nhiên, giận dữ đến chỉ trích. Nếu bạn dùng cấu trúc này để hỏi ở trong tình huống không phù hợp, thì người nghe sẽ thấy khó hiểu hoặc thậm chí cảm thấy bị xúc phạm.

YAPPARI : Sau đó thì…

2,583 total views, 2 views today

やっぱり...

Sau đó thì…

Cách đây mấy ngày Lerner bị lạc khi đang đi bộ trên phố, vậy nên anh gọi một cậu thanh niên và hỏi đường đến nhà ga điện ngầm gần đó. Cậu ta nói:

Soo-desu-nee…Yappari kono michi-o massugu itte…
そうですねえ…やっぱり この道をまっすぐ行って。
(Nghĩa đen : Đúng rồi, sau đó thì đi thẳng theo con đường này..)

Lerner biết Soo-desu-nee  ở đây nghĩa là Để xem nào nhưng anh không hiểu tại sao cậu ấy lại dùng yappari .
Theo như từ điển thì Yappari nghĩa là sau đó thì hoặc đúng như tôi nghĩ , tuy nhiên ở đây cậu ta lại không hề đề cập đến cái gì trước đó.

Lerner cũng để ý nhiều người Nhật hay bắt đầu câu bằng yappari , đặc biệt khi đáp lại câu hỏi của ai đó.
Từ này hay được dùng mà không gắn với một nghĩa cụ thế nào, đến mức một số người Nhật nói nó không có nghĩa và nên hạn chế phạm vi sử dụng. Tuy nhiên, nó vẫn có ý nghĩa nhất định trong giao tiếp.

Khi anh bạn kia trả lời với Lerner là Yappari kono michi-o massugu itte… , thì yappari  ở đây ám chỉ :Tôi đã xét nhiều cách khác nhau để đi, và sau cùng thì tôi nghĩ đi theo đường này là tốt nhất .
Theo khía cạnh nào đó, nó thể hiện người nói đang trả lời một cách tỉnh táo và sáng suốt. Điều đó giải thích tại sao người Nhật hay bắt đầu câu trả lời bằng yappari .
Ý nghĩa và sắc thái mà yappari tạo ra trong câu phụ thuộc vào ngữ cảnh. Nó sẽ thích hợp và thân thiện hơn khi dùng để trả lời câu hỏi giúp người khác. Nhưng khi ai đó bắt đầu bằng từ này để trình bày ý kiến bản thân mà không được hỏi thì sẽ tạo ấn tượng quyết đoán hơi thái quá, đôi khi hơi hùng hổ.

Nó cũng tạo cảm giác là chủ đề đã được bàn bạc từ trước giữa người nghe và người nói, góp phần tạo không khí thân mật. Một số người chủ động sử dụng ảnh hưởng này một cách có mục đích ; ví dụ, người thương gia sẽ nói thế này khi thuyết phục một khách hàng có tiềm năng :

Yappari kore-ga ichiban-desu-yo.
(Cuối cùng thì cái này là tốt nhất đấy).

kể cả khi anh ta không định đưa ra so sánh nào.

Yapparri  là một trong những từ được dùng trong ngôn ngữ thông thường khi mà chúng ta có thể bộc lộ cảm xúc một cách tự do ;
Trong ngữ cảnh lịch sự hơn, từ « kekkyoku » được dùng để thay thế.

YOMOU-TO OMOIMASU : Tôi nghĩ mình sẽ đọc chúng

3,736 total views, no views today

読もうと思います

(Tôi nghĩ mình sẽ đọc chúng)

Mấy hôm trước, anh Lerner mang về nhà đống giấy tờ mà anh không đủ thời gian đọc ở công ty. Khi đang sắp xếp chúng thì anh Takada đến rủ anh Lerner đi đâu đó. Lerner chỉ vào chồng tài liệu và nói:

Konban yomu-to omoimasu.
今晩読むと思います。

với ý nghĩa “Tôi nghĩ tôi sẽ đọc chúng tối nay.” Nhưng Takada không hiểu ý anh và hỏi: “Dare ga?” (Ai sẽ đọc cơ?). Lerner băn khoăn tại sao Takada lại hỏi vậy; nhiều người từng bảo anh rằng trong câu tiếng Nhật thì chủ ngữ có thể được lược bỏ khi hai bên đều đã hiểu rõ ngữ cảnh cơ mà.
Thật ra, nếu Lerner nói:

Konban yomou-to omoimasu.
今晩読もうと思います。

thay vì “Konban yomu-to omoimasu” thì Takada đã hiểu ngay rồi.
“Yomu-to omoimasu” có nghĩa là người nói nghĩ rằng một ai khác sẽ đọc tài liệu, chứ không phải bản thân anh ta sẽ đọc.

Để cho biết ý định của chính mình, ta phải dùng một thể khác của động từ ở trước “~to omoimasu”. Thể này thường được gọi là “động từ thể ý chí”; thể ý chí của “yomu” (đọc) là “yomou”, của “iku” (đi) là “ikou”.

Người Nhật lược bỏ chủ ngữ của câu bất cứ khi nào có thể, nhưng có những quy tắc và phương thức để tránh sự hiểu nhầm hay sự mơ hồ khi trong câu không có chủ ngữ. Việc sử dụng một cách đa dạng các thể của động từ chính là một trong những phương thức ấy. “Yomou-to omoimasu” và “Yomu-to omoimasu” là 2 câu hoàn toàn khác nhau, giống như “Tôi nghĩ tôi sẽ đọc chúng” và “Tôi nghĩ anh ấy sẽ đọc chúng” vậy.
Nếu được hỏi về dự định cho ngày mai và bạn trả lời:

Tsuri-ni iku-to omoimasu.
つりに行くと思います。

để cho biết bạn sẽ đi câu cá, thì người nghe sẽ thấy hơi lúng túng. Mặc dù trong hoàn cảnh này, rõ ràng là bạn đang nói đến bản thân mình, nhưng câu này nghe vẫn khá kì lạ, vì cứ như thể là bạn đang nói về ai khác vậy.
Phải đặc biệt cẩn thận khi muốn nói rằng bạn vẫn chưa biết về dự định của mình. Nếu bạn nói:

Tsuri-ni iku-to omoimasu-ga, yoku shirimasen.
つりに行くと思いますが、よく知りません。

thì nó sẽ khiến người nghe càng thấy khó hiểu hơn vì chắc chắn câu này có nghĩa lf bạn đang nói về dự định của người khác. Thay vào đó bạn nên nói:

Tsuri-ni ikou-ka-to omoimasu-ga, mada yoku wakarimasen.
つりに行こうかと思いますが、まだよく分かりません。

(Tôi nghĩ có lẽ mình sẽ đi câu cá, nhưng tôi vẫn chưa chắc chắn. – từ “ka” được thêm vào sau “ikou” để biểu thị sự không chắc chắn)

NIKKO E IKITAI-DESU : Tôi muốn đi Nikko

1,571 total views, no views today

日光へ行きたいです

(Tôi muốn đi Nikko)

Em gái của Lerner – Margaret viết thư nói rằng cô sẽ tới Nhật Bản vào tháng tới. Tanaka và Yoshida, đồng nghiệp của Lerner, đang tranh luận xem nên đưa cô ấy đi thăm thắng cảnh nào trước. Lerner nhắc lại câu Margeret nói trong thư :

Nikko-e ikitai-desu
Nghĩa là « cô ấy muốn đi Nikko ».

Nhưng chị Yoshida nói : « Ara, Raanaa-san mo?» (Ồ, anh cũng muốn thế à), rõ ràng chị đang nghĩ câu nói của Lerner là “Tôi muốn đi Nikko”. Nhớ lại trước đây Lerner từng được dạy là không nên đề cập đến chủ ngữ của câu trừ khi muốn nhấn mạnh nó. Liệu anh phải bắt đầu câu bằng “Imooto-wa…” (Em gái tôi…) để tránh hiểu lầm?
Thực ra Yoshida đã có thể hiểu đúng ý nếu Lerner nói:

Nikko-e ikitgatte-imasu.
日光へ行きたがっています。
(Cô ấy muốn đến Nikko)

Những từ kết thúc bằng “-tai” biểu thị mong muốn của người nói trong khi kết thúc bằng “-tagaru” thể hiện mong muốn của người khác. Thế nên “ikitai-desu” nghĩa là “tôi muốn đi”, còn “ikitagatte-imasu” nghĩa là “cô ấy/anh ấy/ họ muốn đi”.

Một cách tương tự, những từ thể hiện cảm xúc của người nói thì không được dùng để đề cập đến người thứ ba. Lấy ví dụ, “Ureshii-desu” và “Kanashii-desu” nghĩa là “Tôi thấy vui”/”Tôi đang buồn”; nhưng sẽ không đúng nếu nói “Yoshida-san wa ureshii-desu” hoặc “Imooto wa kanashii-desu”. Khi nói đến người khác, bạn phải thay đổi phần cuối của câu như sau:

Yoshida-san wa ureshi soo-desu
(Chị Yoshida có vẻ vui)

Imooto wa kanashi soo-desu
(Em gái tôi có vẻ buồn)

Một người không thể hiểu rõ cảm xúc của người khác một cách chắc chắn, anh ta chỉ có thể đánh giá qua vẻ bề ngoài. Nói cách khác, trongtiếng Nhật bạn không thể nói là ai đó vui mà chỉ có thể nói là anh ta có vẻ vui.
Quay lại sự khác biệt giữa “ikitai” và “ikitagaru”, về logic cũng như trên, chỉ có người nói mới biết anh ta muốn làm gì, muốn đề cập đến người khác thì phải dùng “tagaru”.

Sự khác biệt trong cách nói đến chính người nói và người khác giúp ta có thể lược bỏ chủ ngữ của câu trong tiếng Nhật mà không bị hiểu lầm.

JITSU-WA : Thật ra,…

5,674 total views, no views today

実は。。。

(Thật ra,…)

Một tối, anh Lerner được ông Okada, một người hàng xóm đến thăm. Ông Okada kể về chuyện thời tiết thay đổi khiến gia đình ông bị ốm hết lượt, sau đó phàn nền về việc giá cả cứ mãi tăng sau mỗi tháng. Ông ấy có vẻ như sẽ tiếp tục kể mãi kể mãi, và anh Lerner bắt đầu tự hỏi làm thế nào để lịch sự hỏi xem ông Okada đến thăm anh có việc gì. Cuối cùng thì ông Okada cũng nói:

Jitsu-wa..
実は。。。
(Thật ra thì,…)

và đi vào công chuyện chính ông muốn bàn với anh. Công chuyện được trao đổi khá nhanh gọn. Thực ra ông Okada còn tốn nhiều thời gian cho đoạn mào đầu hơn là phần chính của câu chuyện.

“Jitsu-wa” mang nghĩa “thực ra” hay “sự thật là”, nhưng trong thực tế nó được dùng khi một người chuẩn bị bắt đầu bàn bạc công việc. Thực chất, nó có nghĩa là :”Tôi sẽ trao đổi công việc bây giờ đây”, “Tôi sắp có một yêu cầu”.
(“Jitsu-ni” = “thực sự”, “rất” và được dùng để nhấn mạnh. “Jitsu-ni omoshiroi desu-ne” = “Điều đó rất thú vị”. Cần chú ý phân biệt “jitsu-ni” và “jitsu-wa”.)

Vài người nghĩ rằng những gì được nói trước câu “Jitsu-wa” không có ý nghĩa quan trọng gì. Điều này cũng đúng thôi, nhưng những câu mở đầu đó thực ra lại đóng một vai trò quan trọng trong giao tiếp.
Hầu hết người Nhật đều cảm thấy cần phải dành một khoản thời gian và công sức kha khá cho việc xây dựng mối quan hệ tốt với một người trước khi bàn chuyện công việc với người đó. Mối quan hệ tốt kiểu này có thể được hình thành khi hai người đồng cảm về một vấn đề nào đó. Vấn đề đó phải được chọn dựa theo cách nhìn nhận này; vì thế nó thường là về thời tiết, gia đình hay tình trạng giá cả đắt đỏ.
“Jitsu-wa” là dấu hiệu bắt đầu công việc, cũng như “Anoo” là dấu hiệu bắt đầu cuộc trò chuyện. Do đó:

Anoo… jitsu-wa… chotto onegai-ga-aru-n-desuga…
あのう。。。実は。。。ちょっとお願いがあるんですが。。。
Xin lỗi, nhưng tôi có thể nhờ anh một việc được không?

ANOO… : Xin lỗi …

143 total views, no views today

あのう…

(Xin lỗi …)

Một chiều nọ có cô gái đến gặp Tanaka lúc đó Lerner đang ở trong phòng khách và quan sát cuộc nói chuyện. Đầu tiên cô gái nói:

Anoo….
(Chà,…/ Này,…)

Và đợi Lerner đáp lại “Hai” trước khi bắt đầu. Cô ấy cũng thường dùngAnoo- trước mỗi câu mới trong suốt cuộc nói chuyện.

Lúc đầu Lerner nghĩ câu này dùng để đệm khi chưa tìm ra câu nói tiếp theo, anh cho rằng người dùng nó thường xuyên là người ít kĩ năng giao tiếp. Nhưng khi anh đề cập điều đó với Tanaka thì anh ấy không đồng tình. Sự thật là Tanaka thích kiểu nói chuyện của cô gái kia vì nó có vẻ khiêm tốn.

Đúng là đôi khi Anoo được dùng khi người nói chưa tìm được từ thích hợp để diễn đạt nhưng đa số trường hợp thì có chủ ý, với nhiều mục đích khác nhau.
Anoo thể hiện rằng người nói chưa sẵn sàng để nói chuyện, đang cảm giác do dự, ngập ngừng. Tạo sự do dự và dè dặt sẽ thích hợp và lịch sự trong một số tình huống nhất định (ví dụ khi nói chuyện với người trên). Cũng nên thể hiện sự do dự khi bạn muốn yêu cầu một điều gì đó, trong trường hợp này Anoo thường theo sau bởi “sumimasen-ga” hoặc “osoreirimasu-ga”.
Anoo dùng một mình thường khơi mào cuộc nói chuyện, thế nên khi ai đó nói “Anoo…” một cách dè dặt thì bạn nên trả lời lại bằng:

Hai” / “Hai, nadesu-ka”
(Tôi có thể giúp gì/ Có chuyện gì thế).

Chứ không nên đợi người đó nói tiếp. Trường hợp này Anoo có thể hiểu theo nghĩa “Xin lỗi, anh có thể nói chuyện với tôi một chút được không”.

Ano-ne hơi khác so với Anoo. Mặc dù cả hai đều thể hiện rằng người nói sắp bắt đầu cuộc hội thoại, Ano-ne thể hiện sự thân thiết nhiều hơn và không thể dùng với người trên. Nó chỉ được dùng trong giao tiếp khi mọi người đã khá thân thiết với nhau.

SHUJIN-GA OSEWA-NI NATTE-ORIMASU : Cảm ơn vì đã giúp đỡ chồng tôi

3,119 total views, no views today

主人がお世話になっております。

(Cảm ơn vì đã giúp đỡ chồng tôi.)

Khi anh Lerner được giới thiệu với chị Takada, vợ một đồng nghiệp của anh, thì cô ấy nói:

Shujin-ga osewa-ni natte-orimasu.
(nghĩa đen: Chồng tôi đã luôn nhận được sự chăm sóc, giúp đỡ của anh.)

Lerner không thực sự hiểu câu này, nhưng anh đoán là cô ấy đang cảm ơn vì việc gì đấy anh đã làm cho chồng cô, và vì thế anh chỉ đáp lại đơn giản: “Iie”.

(Sau đó Lerner được biết rằng trả lời “Iie” cũng không sai, nhưng trong trường hợp này thì “Kochira-koso” mới là thích hợp nhất.)

Danh từ “sewa” có nghĩa là “sự chăm sóc”, “đặc ân”; “Osewa-ni naru” có thể hiểu là “được chăm sóc, được giúp đỡ”.

Người Nhật có thói quen dùng lối nói này khi được giới thiệu với một người quen của một thành viên trong gia đình. Ví dụ, khi người vợ gặp một đồng nghiệp của chồng, cô ấy sẽ nói: “Shujin-ga…”; khi người chồng gặp một đồng nghiệp của vợ, anh ấy sẽ nói: “Kanai-ga…”; và đặc biệt khi bố mẹ gặp giáo viên hay bác sĩ của con, họ sẽ bảy tỏ sự biết ơn: “Kodomo-ga…” (hoặc họ có thể thay “kodomo” bằng tên của đứa con).

Cũng như với các cách diễn đạt khác,cách nói này cũng có thể chỉ đơn giản mang tính hình thức mà thôi. Một người vợ có thể nói “Shujin-ga osewa-ni natte-orimasu” với người quen của chồng kể cả khi cô ấy cảm thấy người nghe không thật sự xứng đáng với lòng biết ơn của cô ấy.

Chúng ta có thể thấy hai quan niệm ẩn sau cấu trúc này.

Một là, người Nhật cảm thấy cực kì cần thiết phải bày tỏ sự biết ơn của họ với những ai đã giúp đỡ những người trong gia đình họ, cứ như thể là chính họ đã nhận được sự giúp đỡ vậy.

Hai là, trạng thái mà liên quan tới ai đó thì nên được thể hiện bằng “osewa-ni naru” bởi vì bạn có thể đang nhận sự giúp đỡ của người ấy mặc dù vào thời điểm đó có thể bạn chưa nhận ra.

KOCHIRA-KOSO : Tôi nên nói thế mới phải

650 total views, no views today

こちらこそ

(Tôi nên nói thế mới phải)

Lerner và Tanaka vừa bàn bạc xong công việc với ông Saito và chuẩn bị về, ông Saito chào:

“Doomo shitsureee-shimashita”
どうも しつらえいしました。
(Cảm ơn, đã thất lễ với mọi người rồi).

Lerner đáp lại:

“Doo-itashimashite” (─ ‿ ‿ ─)
どういたしまして。
(Không có gì).

còn anh Tanaka thì:

Koochira-koso.
こちらこそ
(Tôi nên nói thế mới phải)

Cách nói này rất mới đối với Lerner và anh tự hỏi nó có thể so sánh với “Doo-itashimashite” như thế nào, anh định nhờ Tanaka giúp nhưng anh ấy có vẻ bận nên thôi.

“Koochira-koso”, theo nghĩa đen là “phía bên này” hoặc “ở bên tôi”. Dùng trong trường hợp trên, nó thể hiện người nói đang tự trách mình hơn là nhận lời xin lỗi từ ai đó.

“Kochira-koso” và “Doo-itashimashite” đều dùng để đáp lại lời xin lỗi, tuy nhiên có một chút khác biệt giữa 2 diễn đạt này. Lấy ví dụ, khi ai đó với bạn:

Shitsuree-shimashita. ╯.╰

trả lời câu trên với “Doo-itashimashite” sẽ phủ nhận lời xin lỗi của người kia, trong khi “Koochira-koso” sẽ thể hiện rằng chính bạn mới là người thất lễ, và bạn đang trách bản thân mình. Thế nên dùng “Koochira-koso” sẽ thích hợp hơn khi cả bạn và những người khác đều liên quan đến một sự việc nào đó.

Khi ai đó gặp bạn sau một thời gian dài không gặp và nói:

Gobusata-itashimashita
(Xin lỗi vì lâu nay không liên lạc với anh)

thì bạn không nên nói “Doo-itashimashite”, vì nó ngụ ý rằng việc không liên lạc hoàn toàn là lỗi của người kia, hơn nữa, nó cũng thể hiện bạn không mặn mà gì chuyện liên lạc với người kia lắm. Tốt hơn là dùng “Koochira-koso” để tránh thất lễ.

“Koochira-koso” cũng hay được nói khi 2 người gặp nhau lần đầu tiên:

A: Hajimemashite. Doozo yoroshiku.
始めまして。どう ぞよろしく。 ◠◡◠✌
(Rất vui được gặp bạn)

B: Koochira-koso (doozo yoroshiku).
こちらこそ (どうぞよろしく)。 (◡‿ ◡)
(Hân hạnh đó là của tôi mới phải).