ONEGAI-SHIMASU

124 total views, no views today

お願いします

(Xin lỗi, phiền anh/chị giúp)

Một ngày nọ anh Lerner đến một cửa hàng bách hỏa nhỏ để mua bánh mì. Cửa hàng không có ai, có vẻ người chủ đang ở gian trong xem ti-vi. Anh Lerner đang tự hỏi làm thế nào để gọi người chủ một cách lịch sự, thì một người phụ nữ Nhật bước vào và nói:

Onegai-shimasu.
お願いします。
(Xin lỗi. – nghĩa đen: Xin hãy giúp tôi với.)

Từ lúc đó, anh Lerner bắt đầu quan sát cách dùng của “onegai-shimasu” và thấy nó là một cách nói rất tiện lợi. Có một vài cách để thu hút sự chú ý của người lạ khi bạn muốn gọi họ.
Bạn có thể biết đến cách nói “Chotto” hay “Oi” nhưng những cách này lại khá là thô lỗ.

“Moshimoshi” là một cách nói không chỉ được dùng để bắt đầu cuộc nói chuyện trên điện thoại, mà còn dùng khi hướng đến người lạ. Khi bạn thấy ai đó đánh rơi đồ, bạn có thể nói:

Moshimoshi, nanika ochimashita-yo.
もしもし、なにか落ちましたよ。
(Xin lỗi, bạn đã đánh rơi thứ gì kìa.)

Khi bạn cần sự giúp đỡ, bạn có thể nói: “Onegai-shimasu” cũng như “Sumimasen”, hoặc “Anoo”.
“Onegai-shimasu” được dùng để gọi nhân viên của một cửa hàng hoặc bồi bàn ở nhà hàng.
“Onegai-shimasu” cũng được dùng với nghĩa “Xin hãy chăm sóc cho tôi / để mắt giúp tôi.” Khi điền và nộp giấy tờ gì đó, chẳng hạn như đơn xin việc hay hóa đơn ở văn phòng chính phủ hay ngân hàng, người ta thường nói:

Ja, yoroshiku onegai-shimasu.
じゃ、よろしくお願いします。
(nghĩa đen: Vậy sau đây, xin hãy để mắt đến nó giúp tôi.)

“Yoroshiku onegai-shimasu” cũng được dùng khi gặp mặt ai đó lần đầu tiên. Có thể bạn vẫn nhớ các ứng cử viên tranh cử quốc hội cứ nói đi nói lại “Yoroshiku onegai-shimasu” trong suốt cuộc bầu cử năm ngoái. Họ cực kì hiếm khi nói thẳng là “Xin hãy bỏ phiếu cho tôi”. “Onegai-shimasu” đã là đủ để họ truyền tải mong muốn, và quan trọng là nó nghe lịch sự hơn vì nó không đề cập quá trực tiếp.

SHIRIMASEN

221 total views, 2 views today

知りません

(Tôi không biết)

Trong giờ nghỉ cafe mấy ngày trước, chị Yoshida có hỏi Lerner về kế hoạch cho thứ 7. Vì chưa biết thế nào nên anh trả lời:

Shirimasen.

知りません。

Yoshida có vẻ bối rối và nhờ Tanaka giúp mình. Chị nói rằng muốn mời Lerner, Tanaka và một số người nữa đến dự tiệc ở nhà, nhưng vì không hiểu câu trả lời của Lerner nên chị không dám hỏi.

Có gì sai khi nói “Shirimasen” thay cho “Tôi không biết” ở đây.

* * *

Trong tình huống trên, một người Nhật sẽ trả lời:

Wakarimasen.

わかりません。

(Nghĩa đen: Tôi không hiểu.)

thay vì “Shirimasen”. Thực tế, người Nhật nói “Wakarimasen” tương đương với người Việt nói “Tôi không biết”. Khi được hỏi về phương hướng hoặc thời gian, họ hay dùng “Wakarimasen” hơn là “Shirimasen”.

“Shirimasen” nghĩa là “Tôi chưa có cơ hội để biết được”; vì thế có thể dùng nó khi bạn không có một thông tin nào đấy. Nhưng trong thực tế thích nói “Wakarimasen” hơn khi họ nghĩ họ đáng lẽ phải biết câu trả lời. Bởi vì chẳng ai hiểu rõ mình hơn chính mình nên trả lời “Shirimasen” khi được hỏi về dự định tương lai thì có vẻ kì lạ. Đôi khi nó mang nghĩa khó nghe hơn kiểu “Cũng chẳng liên quan gì đến tôi”, giống như khi một bà mẹ tức giận nói “Shirimasen” với đứa con ngỗ nghịch của mình, thể hiện thái độ bất cần, không quan tâm đến con.

“Wakarimasen” được ưa dùng khi muốn trả lời câu hỏi mà không ảnh hưởng trực tiếp đến ai, vì nó ngụ ý sự thiếu hiểu biết là của chính mình. Ví dụ, một học sinh không thể trả lời câu hỏi của giáo viên thường nói “Wakarimasen”. Sẽ lịch sự hơn khi nói anh ta không có khả năng để tìm ra câu trả lời hơn là nói anh ta không có có hội để học; nếu cứ khăng khăng nói “Shirimasen” thì có vẻ như anh ta đang đổ lỗi cho giáo viên vì thiếu quan tâm hoặc người hỏi hỏi một điều mà anh ta chưa được học.

Tuy nhiên, khi câu hỏi về một điều gì đó mà có thể ta chưa biết, về nơi chốn hoặc ai đó chẳng hạn, ta có thể dùng “Shirimasen”. Và, khi câu hỏi có dạng …-o shitte-imasu-ka hoặc lịch sự hơn, …-o gozonji-desu-ka (Bạn có biết…), thì câu trả lời nên là “Hai, shitte-imasu” hoặc “Iie, shirimasen”.

ITADAKIMASU

498 total views, no views today

いただきます。

(Mời mọi người ăn cơm.)

Cách đây một vài ngày Tanaka có mời Lerner đến ăn bữa tối cùng gia đình. Mọi người chuẩn bị cho bữa ăn đầu năm rất đặc biệt và đầy màu sắc. Anh Lerner cố gắng cư xử đúng mực nhất có thể. Vì thế khi Tanaka nói (theo thói quen của người Nhật):

Nanimo gozaimasen-ga doozo (͡° ͜ʖ ͡°)

何も ございませんが どうぞ。

(Chỉ có bữa cơm đạm bạc này, xin mời)

Lerner đáp lại lịch sự:

Itadakimasu. ≧◉◡◉≦

いただきます。

(Cám ơn – Nghĩa đen: Tôi sắp nhận được sự tiếp đãi của anh/chị).

Ngay sau đó mọi người đều đáp lại đúng câu đó và bắt đầu ăn uống. Lerner hơi nhạc nhiên vì anh nghĩ Itadakimasu chỉ được dùng khi người khách muốn cảm ơn chủ nhà. ⊙.☉

Hầu hết mọi người nói Itadakimasu trước khi ăn và Gochisoo-sama sau khi ăn, kể cả ở nhà của họ. Ở nhà, bố mẹ tập cho con cái không được quên những câu này (gần giống như việc trẻ em Việt Nam được dạy phải biết “Dạ”, “Vâng” khi nói chuyện với người lớn vậy), lúc vào mẫu giáo hay trường tiểu học cũng thế , các giáo viên rèn luyện thói quen cho học sinh. Khi lớn lên, một số bỏ qua kiểu nói này, một số khác vẫn tiếp tục, kể cả khi họ chỉ ăn một mình (xem Naruto ăn ramen (>‿◠)).

Cả Itadakimasu và Gochisoosama đều diễn tả thái độ biết ơn. Sự biết ơn này dành cho bất kì ai hoặc bất kì thứ gì đã giúp tạo ra bữa ăn, thế nên nó được dùng bởi cả chủ nhà và khách.

Khi bạn được ai đó mời dùng bữa, luôn nhớ Itadakimasu trước khi ăn, và Gochisoosama (Nghĩa đen: “Thực sự là bữa ăn tuyệt vời”), hoặc lịch sự hơn “Gochisoosama-deshita”, sau khi ăn xong. Và thường thì chủ nhà sẽ nói câu gì đó để phủ nhận, kiểu thế này:

Osomatsusama-deshita.

お粗末様 でした。

(Không có gì, chỉ là bữa ăn đạm bạc thôi mà).

Người Nhật không có thói quen nói “Rất vui vì bạn thấy ngon miệng”.

Một chú ý khác, Gochisoosama được sử dụng để biểu đạt sự cảm ơn, cả ăn uống và sự hiếu khách. Ví dụ khi rời bữa tiệc ở nhà ai đó, chúng ta thường nói ” Cảm ơn nhiều, hôm nay thật tuyệt!”, nhưng người Nhật chỉ đơn giản nói:

Gochisoosama-deshita.

ごちそうさま でした。

nghĩa tương đương “Cảm ơn vì tất cả mọi điều bạn đã làm, tôi rất vui”.

Và để đơn giản, mọi người chỉ cần hiểu “Itadakimasu” là “Mời cả nhà ăn cơm” như người Việt chúng ta thường nói là được ^^.

AKEMASHITE OMEDETOO-GOZAIMASU

271 total views, 2 views today

あけまして おめでとうございます

(Happy New Year!)

Vào ngày đầu tiên của năm mới, anh Lerner nhận được cả tá thiệp chúc mừng trong mail của anh ấy. Một trong số đó được viết bằng chữ kanji và một số thì viết bằng chữ hiragana, một số khác thì lại có thêm hình ảnh của con rắn- biểu tượng hoàng đạo của năm 1977. Đó là một trải nghiệm thú vị khi thấy rất nhiều thứ được tập hợp cùng nhau như thế, nhưng anh ấy vẫn phân vân tại sao anh ấy lại nhận được chúng trong cùng một ngày. Anh ấy nhớ rằng mình đã không nhận được một tấm thiệp riêng lẻ nào vào tháng 12 trong khi ở Mỹ thì thiệp chúc mừng Giáng sinh bắt đầu đến từ đầu tháng 12 và dần nhiều lên khi đến gần ngày Giáng sinh.

Những tấm thiệp được gửi đi qua mail trước một ngày cố định trong tháng 12 (tháng trước thì là vào ngày 20 tháng 12) thì sẽ được chuyển tới người nhận vào ngày đầu tiên của năm mới. Nếu bạn gửi mail muộn, chúng sẽ như những bức mail thông thường, và không được chuyển đến đúng ngày đầu năm mới, Người Nhật cố gắng gửi thiệp của họ cốt để chúng có thể được chuyển chính xác vào ngày đó bởi vì việc thư đến trước ngày đầu năm mới bị coi là không phù hợp với phép tắc. Có vẻ như điều này liên quan đến chuyện người Nhật không bao giờ chúc nhau những lời chúc năm mới trước ngày 1/1.

Lời chúc mừng bắt đầu vào năm mới và tiếp tục được trao đổi trong khoảng 2 tuần sau đó.

Lời chúc mừng tương ứng thông thường nhất với “Chúc mừng năm mới” đó là:

– Shinnen omedetoo-gozaimasu

(Chúng tôi rất hạnh phúc khi năm mới đến)

– Akemashite omedetoo-gozaimasu.

(Rất vui vì năm mới đã đến)

Và chúng thường được theo sau như thế bởi:

Sakunen-chuu-wa iroiro osewasama-ni narimashita.

Honnen-mo doozo yoroshiku onegai-itashi-masu.

Có hai câu cùng có nghĩa là “Cảm ơn rất nhiều vì tất cả những gì bạn làm cho tôi năm vừa qua, hãy tiếp tục đối xử tốt với tôi như thế nhé!”

Chúng tôi muốn nói rằng:

Honnen-mo doozo yoroshiku onegai-itachi-masu.

本年も どうぞ よろしく おねがいいたします

DOOZO YOI OTOSHI-O

1,887 total views, no views today

どうぞ よい お年を

(Chúc anh/chị năm mới vui vẻ)

Khi anh Lerner chuẩn bị rời văn phòng vào ngày trước kì nghỉ, anh muốn chúc năm mới với mọi người trong phòng. Nghĩ là cũng giống lúc nói “Merry Christmas” khi muốn chia tay ai đó một vài ngày trước lễ Giáng sinh, anh chúc:

Shinnen omedetoo-gozaimasu

新年 おめでとうございます。

(Năm mới vui vẻ!)

Mọi người có vẻ rất ngạc nhiên (⊙.⊙(☉_☉)⊙.⊙) và không ai trả lời anh cả. Tanaka giải thích cho Lerner rằng còn quá sớm để chúc như thế, và người Nhật không nói Omedetoo-gozaimasu trước khi sự kiện xảy ra. Thay vào đó, họ thường nói:

Doozo yoi otoshi-o. ⁀⊙﹏☉⁀

どうぞ よい お年を。

(Nghĩa đen: Xin mời gặp năm mới).

Đây là câu nói rút gọn của Doozo yoi otoshi-o omukae-kudasai. Kiểu chào hỏi này chỉ được dùng khi mọi người chia tay trước lúc năm mới, thế nên không dùng cấu trúc yoi…o cho những tình huống khác như chúc chuyến đi tốt hoặc một ngày cuối tuần vui vẻ.

Không phải là người Nhật không muốn chúc may mắn cho người khác, chỉ là không có cách diễn đạt nào cho nó. ╯.╰

Nếu chia tay trước ngày nghỉ cuối tuần, ta có thể nói Sayoonara hoặc Shitsuree-shimasu (Thường thì Sayoonara hay Sayonara nghe không lịch sự và không nên dùng với người trên).

Với ai đó cảm hoặc bệnh nhẹ:

Dozoo odaiji-ni.

どうぞ お大事に。

(Xin hãy bảo trọng).

Với một người chuẩn bị đi xa hoặc chuyển việc:

Doozo oki-o tsukete.

どうぞ お気をつけて。

(Xin hãy cẩn trọng)

Doozo ogenki-de.

どうぞ お元気で。

(Giữ gìn sức khỏe).

Đối với bạn thân, mọi người thường nói đơn giản như là “Chú ý đừng uống nhiều!” hoặc “Cố hết sức nhé!”, hoặc “Cứ kiên nhẫn, mọi thứ rồi sẽ đâu vào đấy”. ᵔ.ᵔ

Câu chào đúng khi ai đó chuẩn bị ra ngoài làm việc hoặc đi chơi là:

Itte-irasshai.

行っていらっしゃい。

(Nghĩa đen: Đi rồi nhanh về nhé!).

Những người Nhật biết tiếng Anh ước họ có thể nói những câu tương tự (“Happy new year”, “Have a good time”…) trong tiếng Nhật, đặc biệt khi có người nước ngoài hỏi họ phải nói câu đó trong tiếng Nhật như thế nào. Một số nói Yoi go-ryokoo-o (Chuyến đi vui vẻ), thế nhưng có vẻ nó vẫn là câu dịch một cách gò bó O﹏o . Chỉ khi chia tay trước lúc năm mới thì họ mới có thể thoải mái nói:

Doozo yoi otoshi-o. ≧◔◡◔≦

どうぞ お年を。

KOKO-DE TOTEME-KUDASAI

343 total views, 2 views today

ここで とめてください

(Xin hãy dừng ở đây)

Một chiều nọ, Lerner cùng Tanaka ra ngoài có việc. Khi taxi tới điểm đến, Lerner nói:

Koko-de tomete-kudasai.

ここで 止めてください。

(Xin hãy dừng ở đây.)

Lúc ra ngoài, Tanaka hỏi Lerner xem có phải anh thấy bực mình vì cách tài xế taxi nói chuyện. Lerner không hiểu tại sao Tanaka lại hỏi như thế, anh thậm chí chẳng đế ý gì ⁀⊙﹏☉⁀ . Tanaka bảo Lerner có vẻ rất tức giận khi yêu cầu lái xe dừng lại.

Koko-de tomete-kudasai là một cấu trúc đúng trong tiếng Nhật, thích hợp để sử dụng trong tình huống của Lerner. Có thể thấy không phải từ mà chính phát âm của Lerner đã gây ra hiểu lầm. Anh phát âm phần tomete-kudasai, rõ ràng và mạnh mẽ, vốn dĩ tự nhiên trong tiếng Anh. Người Nhật lại không phát âm như vậy, anh ta sẽ nói câu cuối đó một cách nhẹ nhàng và âm điệu hạ xuống. Trong khi Koko-de là phần chuyển tải thông tin quan trọng nên cần phát âm mạnh và rõ ràng hơn.

Do đó ta dùng:

KOKO-DE tomete-kudasai (─‿‿─)

ここで 止めてください。

thay vì

Koko-de TOMETE-KUDASAI (҂⌣̀_⌣́)ᕤ

ここで 止めてください。

Nếu bạn nhấn mạnh tomete-kudasai, người nghe sẽ có cảm giác bạn tức giận với tài xế.

Tương tự, khi bạn muốn gặp ai đó qua điện thoại, sử dụng:

YAMADA-SAN-O onegai-shimasu. (─‿‿─)

山田さんを おねがいします。

(Tôi muốn gặp anh Yamada)

chứ không nói:

Yamada-san-o ONEGAI-SHIMASU. (҂⌣̀_⌣́)ᕤ

Sẽ sai lầm khi nghĩ rằng người Nhật nói theo một âm điệu duy nhất. Chúng ta cần chú ý vì giọng của chúng ta cũng mang thông tin, có thể làm người Nhật hiểu lầm và gây ra kết quả không mong muốn. Hãy cố gắng phát âm đúng, mặc dù khó, tuy nhiên nếu bạn làm được thì hiệu quả nó mang lại sẽ đáng ngạc nhiên đấy.

SENJITSU-WA GOCHISOOSAMA-DESHITA

540 total views, no views today

先日はごちそうさまでした。

(Cảm ơn vì đã đối xử tốt với tôi vào lần trước)

Sau 2 tháng không liên lạc, anh Lerner và anh Saito gặp lại nhau vào ngày nọ. Anh Saito chào anh Lerner bằng cách nói:

Senjitsu-wa gochisoosama-deshita.

(Cảm ơn anh vì lần trước đã đối tốt với tôi.)

Lerner rất ngạc nhiên khi Saito nhắc lại lần gặp trước của họ, khi mà nó đã xảy ra khá lâu rồi; và anh còn ngạc nhiên hơn khi anh nhớ rằng lúc đó anh chỉ mời Saito một tách cà phê ở quán thôi mà. Điều đó thì chẳng đáng gì để mà Saito phải tỏ lòng biết ơn một lần nữa sau những 2 tháng.

Nhưng khi bắt đầu chú ý đến nó, thì anh nhận ra hầu hết mọi người cũng đều sử dụng câu này giống cách anh Saito dùng. Lerner không thể không tự hỏi, liệu có phải trí nhớ của anh phải cực kì tốt để có thể giao tiếp một cách lịch sự ở Nhật?

Câu trả lời cho câu hỏi của anh Lerner là: đúng như vậy. Một người Nhật phải ghi nhớ và tỏ lòng biết ơn với những ân huệ họ nhận được ở lần gặp trước. Bạn có thể nghĩ điều này chẳng cần thiết vì bạn đã cảm ơn rất đúng mực tại thời điểm đó rồi, nhưng đây là phong tục của Nhật và sẽ là bất lịch sự nếu bạn không làm vậy.

Phong tục này có lẽ sẽ gây cho bạn ấn tượng rằng, người Nhật quá để ý đến khoản tiền họ bỏ ra để tiếp đãi người khác, nhưng thực sự thì không phải vậy đâu. Việc ghi nhớ rằng hai người đã gặp nhau và có khoảng thời gian vui vẻ với nhau, thì quan trọng hơn việc ai đã đãi ai. Bạn vẫn nên đề cập đến lần gặp trước, kể cả khi lần đó không ai mời ai cái gì; trong những lúc như vậy bạn hãy nói:

Senjitsu-wa shitsuree-shimashita.

先日は失礼しました。

(Lần trước tôi đã thất lễ rồi.)

thay vì dùng “Senjitsu-wa gochisoosama-deshita.” Điều quan trọng là thể hiện ra rằng bạn và người nghe nhớ đến việc chia sẻ cùng một trải nghiệm; khi chia sẻ cùng một sự kiện / có cùng trải nghiệm với nhau thì sẽ giúp mối quan hệ giữa hai bạn thêm tốt đẹp. Người Nhật quan niệm rằng, việc bắt đầu bằng cách tạo lập một mối liên kết tốt đẹp trước khi bàn chuyện công việc là cực kì cần thiết. Đó là vì sao mà cách nói này lại được dùng như một câu chào hỏi, trong khi một người nói tiếng Anh sẽ chỉ chào nhau: “How have you been?” hay đơn giản là “Hello”.

Chúng tôi đã nghe vài người Nhật phàn nàn rằng những người Mỹ họ quen không tuân theo phong tục này; thậm chí họ còn nghĩ như vậy là rất khiếm nhã.

AKANBOO-NI NAKARETA

607 total views, no views today

赤ん坊に 泣かれた

(Tôi khóc bởi đứa trẻ?)

Thấy Okada có vẻ mệt mỏi, tưởng là bị ốm nên Lerner hỏi thăm. Okada cười và giải thích rằng tối qua anh không ngủ được:

Akanboo-ni nakareta-node

赤ん坊に 泣かれたので

(Vì con tôi khóc quá!)

Từ nakareta rất mới đối với Lerner, thể quá khứ của naku (khóc) lẽ ra phải là naita. Anh biết động từ kết thúc bằng -areta (quá khứ) hoặc -areru (hiện tại) được dùng để diễn đạt lịch sự, thế nên Lerner ngạc nhiên khi thấy Okada dùng từ lịch sự để nói về con mình.

Anh Tanaka, giải thích rằng nakareta là dạng bị động của naita. Cố gắng giúp Lerner hiểu rõ hơn, anh ví dụ:

kanai-ni byooki-ni narareta

家内に 病気に なられた。

(Vợ tôi bị ốm).

Tuy nhiên Lerner lại càng rối hơn, tại sao thể bị động lại được dùng ở đây?

Cấu trúc bị động trong tiếng Nhật được sử dụng giống như tiếng Anh nhưng cũng có thể hơi khác trong một số trường hợp. Khi người nói bị ảnh hưởng, phiền phức vì một hành động thực hiện bởi ai đó, thể bị động sẽ được dùng. Hành động không nhất thiết phải có 2 chủ thể (người thực hiện và người chịu tác động), miễn là nó ảnh hưởng tới người nói. Thế nên nếu trời mưa ảnh hưởng tới chúng ta, chúng ta sẽ nói: ame-ni furareta (Trời mưa làm tôi thấy bất tiện) thay vì ame-ga futta (Trời mưa). Nếu ai đó chết và làm người nói ảnh hưởng, thay vì nói ano-hito-ga shinda (Anh ta chết), ta sẽ dùng ano-hito-ni shinareta.

Tóm lại, cùng một sự việc có thể diễn đạt khác nhau tùy vào cảm nhận của người nói về sự việc ấy. Khi một đứa bé khóc suốt đêm, người mẹ yêu con sẽ nói:

Akachan-ga naita

赤ちゃんが 泣いた。

(Con tôi khóc!)

trong khi người cha phải dậy sớm đi làm việc thường nói:

Akanboo-ni nakareta

赤ん坊に 泣かれた

(Đứa bé khóc làm tôi mệt mỏi)

SHUJIN SHUUJIN?

944 total views, no views today

主人 = 囚人?

(Chồng = Tù nhân?)

Một ngày khác, anh Tanaka giới thiệu chị của mình với Lerner, cô Michiko. Khi Lerner hỏi về công việc của Michiko, cô bảo rằng do quá bận rộn chăm sóc chồng con nên cô không có thời gian để làm công việc nào khác. Anh Lerner nói vẻ thông cảm:

Shuufu-wa taihen-desu-ne.

週府は大変ですね

Ý anh ấy là “làm một người vợ thật vất vả”, nhưng cả Michiko và Tanaka có vẻ bối rối và im lặng. Lerner nói thêm:

Nihon-no shuujin-wa amari tetsudaimasen-kara-ne

日本の囚人はあまり手伝いませんからね

Nghĩa là “người chồng Nhật không giúp vợ mình nhiều”.

Ngay lúc đó Tanaka nhận ra Lerner đã phát âm sai, anh giải thích rằng Lerner đã nói shuufu (người phụ nữ xấu) thay vì shufu (người nội trợ), vàshuujin (tù nhân) thay vì shujin (người chồng). Một sự nhầm lẫn nho nhỏ khi phát âm từ shu đã tạo nên hình ảnh buồn cười về ngôi nhà của một tù nhân và một phụ nữ xấu xí.

Ngoài một số vấn đề nhỏ thì việc phát âm tiếng Nhật đối với người nóitiếng Anh là khá dễ. Một trong số đó là việc tiếng Nhật phát âm mỗi âm tiết hoặc đơn vị âm thanh với độ dài xấp xỉ bằng nhau, nguyên âm dài và nguyên âm ngắn được coi là hai đơn vị âm thanh khác nhau, ん cũng được coi là một đơn vị âm thanh độc lập. Vì vậy từ shujin được tạo ra từ 3 đơn vị âm thanh–shu,ji và n, trong khi shuujin tạo ra từ 4–shu, u, ji và n. Có thể thấy tiếng Nhật phân biệt sự khác nhau của hai từ shujin và shuujinkhông phải bằng độ dài của âm u, mà bằng số lượng đơn vị âm thanh của nó.

Shujin 主人 しゅ  じ

Shuujin 囚人 しゅ う じ ん

Khác với các ngôn ngữ khác, độ dài của nguyên âm trong tiếng Nhật có thể tạo ra nghĩa rất khác nhau, vì thế khi nói tiếng Nhật chúng ta cần chú ý cẩn thận. Một số cặp từ quan trọng dạng này có thể thấy trong một số họ từ có nghĩa gần gũi với nhau. Ví dụ, oji-san nghĩa là “cậu/chú” hoặc “người đàn ông lớn tuổi hơn”, và ojii-san nghĩa là “ông” hoặc “ông lão”; trong khi oba-san nghĩa là “cô/dì” hoặc “người phụ nữ lớn tuổi hơn” thì obaa-san nghĩa là “bà” hoặc “bà lão”.

Có thể luyện tập bằng cách phát âm những cặp từ sau:

yume (giấc mơ) 夢 – yuume (nổi tiếng) 夕目

koi (tình yêu) 恋 – kooi (sự tử tế) 小生

oya (bố mẹ) 親 – ooya (lãnh chúa) 大山

chizu (bản đồ) 地図- chiizu (pho mát) チーズ

Ohara (tên) 小原 – Oohara (tên) 大原

AA, ARE-DESU-KA

855 total views, no views today

ああ、あれですか

(À, cái kia hả?)

Một buổi chiều, chị Yoshida đến tìm anh Lerner để mời anh đi buổi dã ngoại do chị sắp xếp. Khi chị đang trình bày kế hoạch buổi đi chơi thì anh Takada đi ngang qua. Anh hỏi chị đang nói về cái gì thế và được chị trả lời:

Are-desu.

あれです。

(Về vụ kia. – nghĩa đen: Nó là cái kia.)

Sau đó anh Takada đáp lại:

Aa, are-desu-ka.

ああ、あれですか。

(À, về vụ kia hả? – nghĩa đen: À, nó là cái kia hả?)

Chị ấy không hề nhắc đến buổi dã ngoại hay kế hoạch của chị, nhưng anh Takada vẫn hiểu ngay lập tức.

Những từ như “kore” (cái này), “sore” (cái đó), “are” (cái kia) và “dore” (cái nào), được dùng để xác định thứ mà người nói muốn đề cập tới. Hầu hết các quyển sách dạy tiếng Nhật đều giải thích rằng “kore” được dùng khi muốn nói đến những thứ ở gần người nói, “sore” với những thứ ở gần người nghe, và “are” với những thứ ở xa cả người nói và người nghe. Cách giải thích này hoàn toàn đúng khi ta quan tâm đến khoảng cách trong không gian. Thế nhưng bạn phải hiểu là: mối quan hệ về mặt nhận thức giữa người nói và người nghe với thứ được nói đến, thậm chí còn quan trọng hơn khoảng cách vật lý giữa người nói với thứ mà anh ta đề cập tới.

Ví dụ, “are” hàm ý rằng người nói và người nghe có chung hiểu biết về chủ đề đang được nói. Khi người nghe không có kiến thức / hiểu biết gì về chủ đề này, thì “sore” được dùng thay cho “are”.

Hiểu biết về chủ đề trong câu chuyện không nhất thiết phải thu được bằng thị giác. Khi ai đó nghe thấy một tiếng động lạ ngoài phòng, anh ta sẽ nói với người ngồi cạnh: “Are-wa nan-desu-ka” (Kia là tiếng gì vậy nhỉ?), bởi vì cả người nói và người nghe đều nghe thấy tiếng động, và qua đó thu được một hiểu biết chung về nó.

Hiểu biết này cũng không cần phải thu được bằng trải nghiệm cá nhân. Bức tranh Mona Liza thường được nhắc tới với “are” kể cả khi người nói và người nghe chưa bao giờ nhìn thấy nó, bởi vì cả hai đều biết nó rồi (qua sách, báo, …). Nhưng nếu bạn nói tới bức tranh nào đó mà người nghe không biết thì bạn phải dùng “sore”.

Vì tần suất sử dụng “are” phản ánh lượng kiến thức / hiểu biết mà người nói và người nghe chia sẻ, thế nên bạn sẽ nghe thấy từ này khá thường xuyên giữa những thành viên trong gia đình và giữa những đồng nghiệp. Những đôi vợ chồng sống với nhau lâu năm thường có xu hướng sử dụng từ này khá nhiều. Trong một gia đình hạnh phúc, người chồng sẽ hay nói với vợ mình như thế này:

Are-o motte-kite.

あれを持って来て。

(Mang cho anh cái kia với.)

và người vợ sẽ mang đến chính xác thứ anh ấy muốn.