OKAGESAMA-DE : Nhờ có anh/chị

2,065 total views, no views today

おかげさまで

(Nhờ có anh/chị)

Một ngày nọ, anh Lerner tới giúp anh Takada sau khi hoàn thành phần việc của mình. Anh Tanaka cảm ơn anh:

Okagesama-de hayaku sumimashita.
おかげさま で 速く 済みました。
(Tôi đã hoàn thành công việc nhanh chóng nhờ có sự giúp đỡ của anh.)

Vài hôm sau, khi Lerner hỏi ông Okada, một người hàng xóm của anh, xem con trai ông ấy có đỗ kì thi đại học không, thì nhận được câu trả lời:

Hai, okagesama-de.
(Vâng, nhờ có anh đấy ạ.)

Lerner cảm thấy lạ khi được cảm ơn, vì anh có làm gì để giúp con trai ông Okada đâu cơ chứ?
“Okagasame-de” được dùng để bày tỏ lòng biết ơn đến một người cụ thể hoặc tất cả nói chung vì đã giúp đỡ người nói.
Một bệnh nhân sau cơn bệnh sẽ nói với bác sĩ chăm sóc mình:

Okagesama-de yoku narimashita.
(Nhờ có bác sĩ mà tôi đã khỏe lên.)

Và thậm chí khi được một người quen hỏi thăm, người bệnh vẫn sẽ nói:

Okagesama-de yoku narimashita.

Anh ta không có ý rằng người quen đó đã giúp anh ấy bình phục; ý của anh ta là: anh cảm thấy biết ơn tới tất cả những nhân tố đã làm nên sự hồi phục của anh, trong đó có cả người quen này.

Cách nói “Okagesama-de” đôi lúc chỉ đơn giản là cách chào hỏi lịch sự:

A: Ogenki-desu-ka. (Anh khỏe chứ ạ?)
B: Okagesama-de. (Vâng, tôi khỏe, cảm ơn anh.)
A: Oshigoto-wa doo-desu-ka. (Công việc của anh thế nào rồi ạ?)
B: Okagesama-de. (Cảm ơn anh. Nó vẫn tốt.)

Tuy nhiên, luôn có sự suy nghĩ ngầm rằng một người nên biết ơn tới sự giúp đỡ của những người khác, mặc dù những người này có thể không nhận thức được mình đã giúp đỡ cái gì. Thậm chí nếu thành công của bạn có hiển nhiên đến từ nỗ lực của chính bản thân bạn đi chăng nữa, thì bạn vẫn nên nhớ tới sự đóng góp của những người khác. Đó là lí do tại sao ông Okada đã nói “Okagesama-de” với Lerner khi ông thông báo rằng con trai ông đã đỗ kì thi.

MOO KAERANAKUCHA : Tôi phải về bây giờ

973 total views, no views today

もう かえらなくちゃ

(Tôi phải về bây giờ)

Cách đây vài tuần mọi người tụ tập ở nhà anh Lerner và có một buổi tối vui vẻ cùng nhau. Đến gần 9 giờ thì chị Yoshida nói:

Moo kaeranakucha.
もう 帰らなくちゃ。
(Nghĩa đen: Nếu tôi không về bây giờ.)

Anh Lerner không hiểu lắm nhưng đoán là chị ấy định về nhà.

Từ hôm đó Lerner bắt đầu để ý đến cách người Nhật kết thúc câu và anh nhận ra rằng họ rất hay kết kiểu mở như chị Yoshida – đưa ra điều kiện nhưng không kết luận gì cho điều điện đó.

***

Sau “kaeranakucha” (một dạng của “kaeranakute-wa”) mọi người có thể tự suy thêm thành “narimasen” (không được) hoặc “gia đình tôi sẽ lo lắng”. Thế nên “Moo kaeranakucha” đứng một mình có thể dịch thành “Tôi phải về nhà bây giờ”.

Khi một tình huống nào đó đã hiển nhiên, người Nhật rất hay dùng câu kết mở. Thực tế, họ thấy dài dòng khi phải nói cả câu khi chỉ cần nửa đầu của nó thì người nghe đã hiểu. Vì vậy, khi người Nhật muốn về, họ thường chỉ nói “Sorosoro” (Nghĩa đen: chậm rãi; câu này thay cho “Sorosoro oitoma-itashimasu”, nghĩa là “Tôi về sớm đây”) hoặc “Jaa, korede” (nghĩa đen: “Đến đây thôi”)

Ngày nay học sinh khi ôn thi tự nhủ với mình là “Ganbaranakucha” (Nếu mình không cố gắng). Nghĩa thì chắc đã hiển nhiên rồi, nếu không cố gắng thì bạn sẽ trượt kì thi. Tương tự thế, chúng ta thường nói với bản thân mình:

Ganbaranakucha.
がんばらなくちゃ。

bởi vì nếu chúng ta không cố hết sức, đường tới thành công sẽ dừng lại, và bạn sẽ không còn ở đấy và đọc những dòng này nữa.

OJAMA-SHIMASU : Tôi sắp sửa làm phiền anh/chị

573 total views, no views today

おじゃまします

(Tôi sắp sửa làm phiền anh/chị)

Tuần trước một phóng viên tới gặp anh Lerner tại văn phòng để phỏng vấn anh về cuộc sống của một người nước ngoài làm việc tại Nhật. Khi cô ấy tới văn phòng, cô ấy nói:

Ojama-shimasu.
お邪魔します。
(Tôi có thể xin chút thời gian của anh được không? – nghĩa đen: Tôi sắp sửa làm phiền anh.)

Khi xong việc và chuẩn bị đi, cô ấy cúi chào và nói:

Ojama-shimashita.
お邪魔しました。
(Tôi xin lỗi vì đã làm phiền anh.)

Động từ “ojama-suru” có nghĩa là “làm phiền” hoặc “cản trở lối đi của người khác” và trong giao tiếp, nó được dùng để đề cập đến việc nói chuyện, đến thăm một người ở nhà riêng hay ở công sở.

Ta dùng “Ojama-shimasu” khi bắt đầu nói và “Ojama-shimashita” khi kết thúc cuộc nói chuyện và rời đi. Ta cũng thường thêm “chotto” vào trước “Ojama-shimasu” và “doomo” vào trước “Ojama-shimashita”.

Chotto ojama-shimasu.
(Tôi có thể làm phiền anh một chút được không?)

Doomo ojama-shimashita.
(Tôi rất xin lỗi vì đã làm phiền anh.)

Các cách nói tương tự là “Shitsuree-shimasu” (Xin phép thất lễ với anh/chị) và “Shitsuree-shimashita” (Tôi đã thất lễ rồi). Vì rời đi là một hành động “thất lễ” nên trước khi đi khỏi, ta có thể nói:

Doomo shitsuree-shimashita. Dewa kore-de shitsuree-shimasu.
(Tôi rất xin lỗi vì đã làm phiền anh/chị. Giờ thì tôi xin phép được thất lễ.)

Như vậy, “shitsuree” còn được dùng khi đề cập đến việc rời đi, còn “ojama-suru” chỉ được dùng để nói về việc bắt đầu và kết thúc câu chuyện.

OCHA-O DOOZO : Mời anh/chị uống trà

1,101 total views, no views today

お茶を どうぞ

(Mời anh/chị uống trà)


Một ngày nọ Lerner đến thăm Tanaka. Vợ anh Tanaka ra đón và cố gắng giúp Lerner thấy thoải mái, tuy rằng chị không nói gì nhiều. Sau này khi nghĩ lại những gì chị nói, anh nhận ra rằng tất cả mọi câu đều kết thúc bằng “doozo”.
Khi anh vào tới “genkan” (lối vào), chị nói “Doozo”, nghĩa là “Mời anh vào”. Khi chị dẫn anh vào phòng và cho anh cái “zabuton” (đệm của Nhật) để ngồi, chị cũng nói “doozo”. Khi mang trà đến, chị nói “Ocha-o doozo”, rồi “Moo sukoshi doozo” khi chị mời anh ăn kẹo. Lúc anh về, chị lại nói “Matadoozo” (Hôm khác lại đến chơi nhé). Không một câu nào trong này có động từ.
***
Người Nhật có xu hướng tránh nói những điều có thể hiểu được mà không cần đề cập đến, cho nên câu có động từ có thể hiểu từ chị Tanaka là:

どうぞ。
Doozo (agatte-kudasai, hoặc o-agari-kudasai)
Mời anh vào.

Doozo (zabunton-o-ate-kudasai, hoặc lịch sự hơn: oshiki-kudasai).
Ngồi trên tấm đệm này nhé.

Ocha-o doozo (nonde-sudasai, hoặc meshiagatte-kudasai).
Uống chút trà nhé.

また どうぞ。
Mata doozo (kite-kudasai, hoặc lịch sự: oide-kudasai).
Hôm nào tới nữa nhé.

Trong những câu trên, doozo thay thế cho tất cả các động từ khi mà chủ ý của người nói đã rõ ràng. Câu nói kết thúc bằng “doozo” thể hiện sự giữ ý và nghe lịch sự hơn đối với người Nhật.
Nếu bạn để ý thì khi người Nhật sử dụng câu với “doozo”, họ thường làm rõ mục đích câu nói bằng việc cúi người hoặc một số cử chỉ khác.

TAIHEN-DESU-NE : Vất vả nhỉ!

3,031 total views, no views today

大変ですね

(Vất vả nhỉ!)

Chiều thứ 6 nọ, anh Lerner đã kết thúc công việc và chuẩn bị về, lúc đó Tanaka vẫn đang làm. Đang không biết bày tỏ sự thông cảm của mình như thế nào cho thích hợp thì chị Yoshida đi tới và nói:

Taihen-desu-ne.
大変ですね。
(Anh vất vả quá!)

Tanaka mỉm cười, nói cũng đã gần xong và rằng chị đừng lo lắng cho anh ấy.

Mấy ngày sau, vào một buổi sáng khá lạnh, Lerner thấy hàng xóm của mình – anh Okada đang bận rộn với việc rửa xe. Anh thử dùng lại cấu trúc mà mình vừa học được, có vẻ nó rất có tác dụng vì Okada mỉm cười thân thiện và nói:

Raanaa-san-koso, samui-noni taihen-desu-ne.
らあなあさんこそ、寒いのに大変でエスね。

(Anh chắc cũng rất mệt vì trời lạnh thế này.)

Từ “taihen” mang nghĩa “bất thường” hoặc “kinh khủng”; nó cũng mang nghĩa “một công việc khó khăn” hay “trải nghiệm khinh khủng”. Bạn có thể dùng để diễn đạt trạng thái hoặc trải nghiệm cá nhân của mình, ví dụ:

Mainichi taihen-desu.
毎日大変です。
(Hằng ngày tôi rất bận rộn)

Kinoo-wa taihen-deshita.
きのうは大変でした。
(Hôm qua thật là kinh khủng)

Kiểu nói “taihen-desu-ne” được dùng rất thường xuyên trong các đối thoại hàng ngày để thể hiện sự thông cảm và quan tâm. Bạn có thể để ý thấy người Nhật hay nói câu này với những người làm việc vất vả – nhân viên làm qua giờ, học sinh học chăm chỉ để đạt điểm cao vào đại học, các phục vụ viên trong giờ chạy bàn và tương tự.

Người Nhật thích sự cần cù chăm chỉ, và họ thích thể hiện sự tôn trọng đối với nó, kể cả khi ai đó làm thế chỉ vì lợi ích cá nhân. Đó cũng là cách họ xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với mọi người bằng cách thể hiện sự quan tâm và cảm thông của mình, nhất là với những người làm việc chăm chỉ.

ITTE-IRASSHAI : Hãy đi rồi quay về nhé

1,048 total views, no views today

いって(い)らっしゃい。

(Hãy đi rồi quay về nhé.)

Một buổi sáng khi anh Lerner đang vội vã đi ra nhà ga thì gặp hàng xóm của anh – bà Okada, đang quét con đường trước nhà bà. Bà nhìn thấy anh Lerner và nói với anh:

Itte-(i)rasshai.
(Chúc anh một ngày vui vẻ. – nghĩa đen: Anh đi rồi lại về nhé.)

Lerner không biết đáp lại câu chào hỏi này như thế nào nên anh chỉ trả lời đơn giản: “Sayoonara”, mặc dù tự anh cũng cảm thấy nó chưa đúng lắm. Sau đó ở văn phòng, anh Takada đã cho Lerner biết rằng, đáng lẽ anh phải nói:

Itte-mairimasu hoặc Itte-kimasu.
いってまいります。 / いってきます。
(Vâng, tôi sẽ đi rồi trở về ạ.)

“Itte-(i)rasshai” và “Itte-mairimasu” (hoặc “Itte-kimasu”) được nói với nhau trong một gia đình khi một thành viên rời khỏi nhà. Ở Nhật có phong tục là người sắp ra ngoài sẽ nói “Itte-mairimasu” hoặc “Itte-kimasu” (câu sau kém lịch sự hơn), và những người ở nhà sẽ nói “Itte-(i)rasshai” (◡‿◡✿)

Những cách này cũng được dùng giữa những người không cùng một nhà khi họ cảm thấy đủ thân thiết và họ thuộc về cùng một nhóm. Tất nhiên khái niệm “nhóm” với mỗi người là khác nhau, nhưng thường thì những người thuộc cùng một khu phố hay cùng một công ty thì được coi là cùng nhóm. Vì thế, cặp câu này sẽ được sử dụng khi một người hàng xóm hay một đồng nghiệp tạm thời đi đâu đó.

Không dùng “Sayoonara” (Tạm biệt) với các thành viên trong gia đình trừ khi bạn nghĩ rằng bạn sẽ không gặp lại họ nữa. Nếu một người chồng nói “Sayoonara” với vợ mình trước khi đi, thì có nghĩa là anh ta sẽ không còn sống cùng cô ấy nữa (ㄒoㄒ)

Khi một người trong gia đình trở về nhà, anh ta sẽ nói:

Tadaima.
ただいま。
(Tôi đã về đây.)

và người nhà của anh ấy sẽ đáp lại:

Okaerinasai.
お帰りなさい。
(Mừng anh đã về nhà.)

Trong tiếng Anh, người ta sử dụng khá nhiều cách diễn đạt trong tình huống kiểu như thế này, nhưng trong tiếng Nhật, các cặp câu cố định được dùng trong từng tình huống cụ thể. Những người trong một nhà thì không nói với nhau những câu như “Konnichiwa”, “Konbanwa” hay “Sayoonara” .

ONEGAI-SHIMASU : Xin lỗi, phiền anh/chị giúp

239 total views, 2 views today

お願いします

(Xin lỗi, phiền anh/chị giúp)

Một ngày nọ anh Lerner đến một cửa hàng bách hỏa nhỏ để mua bánh mì. Cửa hàng không có ai, có vẻ người chủ đang ở gian trong xem ti-vi. Anh Lerner đang tự hỏi làm thế nào để gọi người chủ một cách lịch sự, thì một người phụ nữ Nhật bước vào và nói:

Onegai-shimasu.
お願いします。
(Xin lỗi. – nghĩa đen: Xin hãy giúp tôi với.)

Từ lúc đó, anh Lerner bắt đầu quan sát cách dùng của “onegai-shimasu” và thấy nó là một cách nói rất tiện lợi. Có một vài cách để thu hút sự chú ý của người lạ khi bạn muốn gọi họ.
Bạn có thể biết đến cách nói “Chotto” hay “Oi” nhưng những cách này lại khá là thô lỗ.

“Moshimoshi” là một cách nói không chỉ được dùng để bắt đầu cuộc nói chuyện trên điện thoại, mà còn dùng khi hướng đến người lạ. Khi bạn thấy ai đó đánh rơi đồ, bạn có thể nói:

Moshimoshi, nanika ochimashita-yo.
もしもし、なにか落ちましたよ。
(Xin lỗi, bạn đã đánh rơi thứ gì kìa.)

Khi bạn cần sự giúp đỡ, bạn có thể nói: “Onegai-shimasu” cũng như “Sumimasen”, hoặc “Anoo”.
“Onegai-shimasu” được dùng để gọi nhân viên của một cửa hàng hoặc bồi bàn ở nhà hàng.
“Onegai-shimasu” cũng được dùng với nghĩa “Xin hãy chăm sóc cho tôi / để mắt giúp tôi.” Khi điền và nộp giấy tờ gì đó, chẳng hạn như đơn xin việc hay hóa đơn ở văn phòng chính phủ hay ngân hàng, người ta thường nói:

Ja, yoroshiku onegai-shimasu.
じゃ、よろしくお願いします。
(nghĩa đen: Vậy sau đây, xin hãy để mắt đến nó giúp tôi.)

“Yoroshiku onegai-shimasu” cũng được dùng khi gặp mặt ai đó lần đầu tiên. Có thể bạn vẫn nhớ các ứng cử viên tranh cử quốc hội cứ nói đi nói lại “Yoroshiku onegai-shimasu” trong suốt cuộc bầu cử năm ngoái. Họ cực kì hiếm khi nói thẳng là “Xin hãy bỏ phiếu cho tôi”. “Onegai-shimasu” đã là đủ để họ truyền tải mong muốn, và quan trọng là nó nghe lịch sự hơn vì nó không đề cập quá trực tiếp.

SHIRIMASEN

450 total views, 2 views today

知りません

(Tôi không biết)

Trong giờ nghỉ cafe mấy ngày trước, chị Yoshida có hỏi Lerner về kế hoạch cho thứ 7. Vì chưa biết thế nào nên anh trả lời:

Shirimasen.

知りません。

Yoshida có vẻ bối rối và nhờ Tanaka giúp mình. Chị nói rằng muốn mời Lerner, Tanaka và một số người nữa đến dự tiệc ở nhà, nhưng vì không hiểu câu trả lời của Lerner nên chị không dám hỏi.

Có gì sai khi nói “Shirimasen” thay cho “Tôi không biết” ở đây.

* * *

Trong tình huống trên, một người Nhật sẽ trả lời:

Wakarimasen.

わかりません。

(Nghĩa đen: Tôi không hiểu.)

thay vì “Shirimasen”. Thực tế, người Nhật nói “Wakarimasen” tương đương với người Việt nói “Tôi không biết”. Khi được hỏi về phương hướng hoặc thời gian, họ hay dùng “Wakarimasen” hơn là “Shirimasen”.

“Shirimasen” nghĩa là “Tôi chưa có cơ hội để biết được”; vì thế có thể dùng nó khi bạn không có một thông tin nào đấy. Nhưng trong thực tế thích nói “Wakarimasen” hơn khi họ nghĩ họ đáng lẽ phải biết câu trả lời. Bởi vì chẳng ai hiểu rõ mình hơn chính mình nên trả lời “Shirimasen” khi được hỏi về dự định tương lai thì có vẻ kì lạ. Đôi khi nó mang nghĩa khó nghe hơn kiểu “Cũng chẳng liên quan gì đến tôi”, giống như khi một bà mẹ tức giận nói “Shirimasen” với đứa con ngỗ nghịch của mình, thể hiện thái độ bất cần, không quan tâm đến con.

“Wakarimasen” được ưa dùng khi muốn trả lời câu hỏi mà không ảnh hưởng trực tiếp đến ai, vì nó ngụ ý sự thiếu hiểu biết là của chính mình. Ví dụ, một học sinh không thể trả lời câu hỏi của giáo viên thường nói “Wakarimasen”. Sẽ lịch sự hơn khi nói anh ta không có khả năng để tìm ra câu trả lời hơn là nói anh ta không có có hội để học; nếu cứ khăng khăng nói “Shirimasen” thì có vẻ như anh ta đang đổ lỗi cho giáo viên vì thiếu quan tâm hoặc người hỏi hỏi một điều mà anh ta chưa được học.

Tuy nhiên, khi câu hỏi về một điều gì đó mà có thể ta chưa biết, về nơi chốn hoặc ai đó chẳng hạn, ta có thể dùng “Shirimasen”. Và, khi câu hỏi có dạng …-o shitte-imasu-ka hoặc lịch sự hơn, …-o gozonji-desu-ka (Bạn có biết…), thì câu trả lời nên là “Hai, shitte-imasu” hoặc “Iie, shirimasen”.

ITADAKIMASU

709 total views, no views today

いただきます。

(Mời mọi người ăn cơm.)

Cách đây một vài ngày Tanaka có mời Lerner đến ăn bữa tối cùng gia đình. Mọi người chuẩn bị cho bữa ăn đầu năm rất đặc biệt và đầy màu sắc. Anh Lerner cố gắng cư xử đúng mực nhất có thể. Vì thế khi Tanaka nói (theo thói quen của người Nhật):

Nanimo gozaimasen-ga doozo (͡° ͜ʖ ͡°)

何も ございませんが どうぞ。

(Chỉ có bữa cơm đạm bạc này, xin mời)

Lerner đáp lại lịch sự:

Itadakimasu. ≧◉◡◉≦

いただきます。

(Cám ơn – Nghĩa đen: Tôi sắp nhận được sự tiếp đãi của anh/chị).

Ngay sau đó mọi người đều đáp lại đúng câu đó và bắt đầu ăn uống. Lerner hơi nhạc nhiên vì anh nghĩ Itadakimasu chỉ được dùng khi người khách muốn cảm ơn chủ nhà. ⊙.☉

Hầu hết mọi người nói Itadakimasu trước khi ăn và Gochisoo-sama sau khi ăn, kể cả ở nhà của họ. Ở nhà, bố mẹ tập cho con cái không được quên những câu này (gần giống như việc trẻ em Việt Nam được dạy phải biết “Dạ”, “Vâng” khi nói chuyện với người lớn vậy), lúc vào mẫu giáo hay trường tiểu học cũng thế , các giáo viên rèn luyện thói quen cho học sinh. Khi lớn lên, một số bỏ qua kiểu nói này, một số khác vẫn tiếp tục, kể cả khi họ chỉ ăn một mình (xem Naruto ăn ramen (>‿◠)).

Cả Itadakimasu và Gochisoosama đều diễn tả thái độ biết ơn. Sự biết ơn này dành cho bất kì ai hoặc bất kì thứ gì đã giúp tạo ra bữa ăn, thế nên nó được dùng bởi cả chủ nhà và khách.

Khi bạn được ai đó mời dùng bữa, luôn nhớ Itadakimasu trước khi ăn, và Gochisoosama (Nghĩa đen: “Thực sự là bữa ăn tuyệt vời”), hoặc lịch sự hơn “Gochisoosama-deshita”, sau khi ăn xong. Và thường thì chủ nhà sẽ nói câu gì đó để phủ nhận, kiểu thế này:

Osomatsusama-deshita.

お粗末様 でした。

(Không có gì, chỉ là bữa ăn đạm bạc thôi mà).

Người Nhật không có thói quen nói “Rất vui vì bạn thấy ngon miệng”.

Một chú ý khác, Gochisoosama được sử dụng để biểu đạt sự cảm ơn, cả ăn uống và sự hiếu khách. Ví dụ khi rời bữa tiệc ở nhà ai đó, chúng ta thường nói ” Cảm ơn nhiều, hôm nay thật tuyệt!”, nhưng người Nhật chỉ đơn giản nói:

Gochisoosama-deshita.

ごちそうさま でした。

nghĩa tương đương “Cảm ơn vì tất cả mọi điều bạn đã làm, tôi rất vui”.

Và để đơn giản, mọi người chỉ cần hiểu “Itadakimasu” là “Mời cả nhà ăn cơm” như người Việt chúng ta thường nói là được ^^.

AKEMASHITE OMEDETOO-GOZAIMASU

521 total views, no views today

あけまして おめでとうございます

(Happy New Year!)

Vào ngày đầu tiên của năm mới, anh Lerner nhận được cả tá thiệp chúc mừng trong mail của anh ấy. Một trong số đó được viết bằng chữ kanji và một số thì viết bằng chữ hiragana, một số khác thì lại có thêm hình ảnh của con rắn- biểu tượng hoàng đạo của năm 1977. Đó là một trải nghiệm thú vị khi thấy rất nhiều thứ được tập hợp cùng nhau như thế, nhưng anh ấy vẫn phân vân tại sao anh ấy lại nhận được chúng trong cùng một ngày. Anh ấy nhớ rằng mình đã không nhận được một tấm thiệp riêng lẻ nào vào tháng 12 trong khi ở Mỹ thì thiệp chúc mừng Giáng sinh bắt đầu đến từ đầu tháng 12 và dần nhiều lên khi đến gần ngày Giáng sinh.

Những tấm thiệp được gửi đi qua mail trước một ngày cố định trong tháng 12 (tháng trước thì là vào ngày 20 tháng 12) thì sẽ được chuyển tới người nhận vào ngày đầu tiên của năm mới. Nếu bạn gửi mail muộn, chúng sẽ như những bức mail thông thường, và không được chuyển đến đúng ngày đầu năm mới, Người Nhật cố gắng gửi thiệp của họ cốt để chúng có thể được chuyển chính xác vào ngày đó bởi vì việc thư đến trước ngày đầu năm mới bị coi là không phù hợp với phép tắc. Có vẻ như điều này liên quan đến chuyện người Nhật không bao giờ chúc nhau những lời chúc năm mới trước ngày 1/1.

Lời chúc mừng bắt đầu vào năm mới và tiếp tục được trao đổi trong khoảng 2 tuần sau đó.

Lời chúc mừng tương ứng thông thường nhất với “Chúc mừng năm mới” đó là:

– Shinnen omedetoo-gozaimasu

(Chúng tôi rất hạnh phúc khi năm mới đến)

– Akemashite omedetoo-gozaimasu.

(Rất vui vì năm mới đã đến)

Và chúng thường được theo sau như thế bởi:

Sakunen-chuu-wa iroiro osewasama-ni narimashita.

Honnen-mo doozo yoroshiku onegai-itashi-masu.

Có hai câu cùng có nghĩa là “Cảm ơn rất nhiều vì tất cả những gì bạn làm cho tôi năm vừa qua, hãy tiếp tục đối xử tốt với tôi như thế nhé!”

Chúng tôi muốn nói rằng:

Honnen-mo doozo yoroshiku onegai-itachi-masu.

本年も どうぞ よろしく おねがいいたします