OCHA-O DOOZO : Mời anh/chị uống trà

982 total views, 2 views today

お茶を どうぞ

(Mời anh/chị uống trà)


Một ngày nọ Lerner đến thăm Tanaka. Vợ anh Tanaka ra đón và cố gắng giúp Lerner thấy thoải mái, tuy rằng chị không nói gì nhiều. Sau này khi nghĩ lại những gì chị nói, anh nhận ra rằng tất cả mọi câu đều kết thúc bằng “doozo”.
Khi anh vào tới “genkan” (lối vào), chị nói “Doozo”, nghĩa là “Mời anh vào”. Khi chị dẫn anh vào phòng và cho anh cái “zabuton” (đệm của Nhật) để ngồi, chị cũng nói “doozo”. Khi mang trà đến, chị nói “Ocha-o doozo”, rồi “Moo sukoshi doozo” khi chị mời anh ăn kẹo. Lúc anh về, chị lại nói “Matadoozo” (Hôm khác lại đến chơi nhé). Không một câu nào trong này có động từ.
***
Người Nhật có xu hướng tránh nói những điều có thể hiểu được mà không cần đề cập đến, cho nên câu có động từ có thể hiểu từ chị Tanaka là:

どうぞ。
Doozo (agatte-kudasai, hoặc o-agari-kudasai)
Mời anh vào.

Doozo (zabunton-o-ate-kudasai, hoặc lịch sự hơn: oshiki-kudasai).
Ngồi trên tấm đệm này nhé.

Ocha-o doozo (nonde-sudasai, hoặc meshiagatte-kudasai).
Uống chút trà nhé.

また どうぞ。
Mata doozo (kite-kudasai, hoặc lịch sự: oide-kudasai).
Hôm nào tới nữa nhé.

Trong những câu trên, doozo thay thế cho tất cả các động từ khi mà chủ ý của người nói đã rõ ràng. Câu nói kết thúc bằng “doozo” thể hiện sự giữ ý và nghe lịch sự hơn đối với người Nhật.
Nếu bạn để ý thì khi người Nhật sử dụng câu với “doozo”, họ thường làm rõ mục đích câu nói bằng việc cúi người hoặc một số cử chỉ khác.

TAIHEN-DESU-NE : Vất vả nhỉ!

2,547 total views, 48 views today

大変ですね

(Vất vả nhỉ!)

Chiều thứ 6 nọ, anh Lerner đã kết thúc công việc và chuẩn bị về, lúc đó Tanaka vẫn đang làm. Đang không biết bày tỏ sự thông cảm của mình như thế nào cho thích hợp thì chị Yoshida đi tới và nói:

Taihen-desu-ne.
大変ですね。
(Anh vất vả quá!)

Tanaka mỉm cười, nói cũng đã gần xong và rằng chị đừng lo lắng cho anh ấy.

Mấy ngày sau, vào một buổi sáng khá lạnh, Lerner thấy hàng xóm của mình – anh Okada đang bận rộn với việc rửa xe. Anh thử dùng lại cấu trúc mà mình vừa học được, có vẻ nó rất có tác dụng vì Okada mỉm cười thân thiện và nói:

Raanaa-san-koso, samui-noni taihen-desu-ne.
らあなあさんこそ、寒いのに大変でエスね。

(Anh chắc cũng rất mệt vì trời lạnh thế này.)

Từ “taihen” mang nghĩa “bất thường” hoặc “kinh khủng”; nó cũng mang nghĩa “một công việc khó khăn” hay “trải nghiệm khinh khủng”. Bạn có thể dùng để diễn đạt trạng thái hoặc trải nghiệm cá nhân của mình, ví dụ:

Mainichi taihen-desu.
毎日大変です。
(Hằng ngày tôi rất bận rộn)

Kinoo-wa taihen-deshita.
きのうは大変でした。
(Hôm qua thật là kinh khủng)

Kiểu nói “taihen-desu-ne” được dùng rất thường xuyên trong các đối thoại hàng ngày để thể hiện sự thông cảm và quan tâm. Bạn có thể để ý thấy người Nhật hay nói câu này với những người làm việc vất vả – nhân viên làm qua giờ, học sinh học chăm chỉ để đạt điểm cao vào đại học, các phục vụ viên trong giờ chạy bàn và tương tự.

Người Nhật thích sự cần cù chăm chỉ, và họ thích thể hiện sự tôn trọng đối với nó, kể cả khi ai đó làm thế chỉ vì lợi ích cá nhân. Đó cũng là cách họ xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với mọi người bằng cách thể hiện sự quan tâm và cảm thông của mình, nhất là với những người làm việc chăm chỉ.

ITTE-IRASSHAI : Hãy đi rồi quay về nhé

913 total views, no views today

いって(い)らっしゃい。

(Hãy đi rồi quay về nhé.)

Một buổi sáng khi anh Lerner đang vội vã đi ra nhà ga thì gặp hàng xóm của anh – bà Okada, đang quét con đường trước nhà bà. Bà nhìn thấy anh Lerner và nói với anh:

Itte-(i)rasshai.
(Chúc anh một ngày vui vẻ. – nghĩa đen: Anh đi rồi lại về nhé.)

Lerner không biết đáp lại câu chào hỏi này như thế nào nên anh chỉ trả lời đơn giản: “Sayoonara”, mặc dù tự anh cũng cảm thấy nó chưa đúng lắm. Sau đó ở văn phòng, anh Takada đã cho Lerner biết rằng, đáng lẽ anh phải nói:

Itte-mairimasu hoặc Itte-kimasu.
いってまいります。 / いってきます。
(Vâng, tôi sẽ đi rồi trở về ạ.)

“Itte-(i)rasshai” và “Itte-mairimasu” (hoặc “Itte-kimasu”) được nói với nhau trong một gia đình khi một thành viên rời khỏi nhà. Ở Nhật có phong tục là người sắp ra ngoài sẽ nói “Itte-mairimasu” hoặc “Itte-kimasu” (câu sau kém lịch sự hơn), và những người ở nhà sẽ nói “Itte-(i)rasshai” (◡‿◡✿)

Những cách này cũng được dùng giữa những người không cùng một nhà khi họ cảm thấy đủ thân thiết và họ thuộc về cùng một nhóm. Tất nhiên khái niệm “nhóm” với mỗi người là khác nhau, nhưng thường thì những người thuộc cùng một khu phố hay cùng một công ty thì được coi là cùng nhóm. Vì thế, cặp câu này sẽ được sử dụng khi một người hàng xóm hay một đồng nghiệp tạm thời đi đâu đó.

Không dùng “Sayoonara” (Tạm biệt) với các thành viên trong gia đình trừ khi bạn nghĩ rằng bạn sẽ không gặp lại họ nữa. Nếu một người chồng nói “Sayoonara” với vợ mình trước khi đi, thì có nghĩa là anh ta sẽ không còn sống cùng cô ấy nữa (ㄒoㄒ)

Khi một người trong gia đình trở về nhà, anh ta sẽ nói:

Tadaima.
ただいま。
(Tôi đã về đây.)

và người nhà của anh ấy sẽ đáp lại:

Okaerinasai.
お帰りなさい。
(Mừng anh đã về nhà.)

Trong tiếng Anh, người ta sử dụng khá nhiều cách diễn đạt trong tình huống kiểu như thế này, nhưng trong tiếng Nhật, các cặp câu cố định được dùng trong từng tình huống cụ thể. Những người trong một nhà thì không nói với nhau những câu như “Konnichiwa”, “Konbanwa” hay “Sayoonara” .

ONEGAI-SHIMASU : Xin lỗi, phiền anh/chị giúp

36 total views, 4 views today

お願いします

(Xin lỗi, phiền anh/chị giúp)

Một ngày nọ anh Lerner đến một cửa hàng bách hỏa nhỏ để mua bánh mì. Cửa hàng không có ai, có vẻ người chủ đang ở gian trong xem ti-vi. Anh Lerner đang tự hỏi làm thế nào để gọi người chủ một cách lịch sự, thì một người phụ nữ Nhật bước vào và nói:

Onegai-shimasu.
お願いします。
(Xin lỗi. – nghĩa đen: Xin hãy giúp tôi với.)

Từ lúc đó, anh Lerner bắt đầu quan sát cách dùng của “onegai-shimasu” và thấy nó là một cách nói rất tiện lợi. Có một vài cách để thu hút sự chú ý của người lạ khi bạn muốn gọi họ.
Bạn có thể biết đến cách nói “Chotto” hay “Oi” nhưng những cách này lại khá là thô lỗ.

“Moshimoshi” là một cách nói không chỉ được dùng để bắt đầu cuộc nói chuyện trên điện thoại, mà còn dùng khi hướng đến người lạ. Khi bạn thấy ai đó đánh rơi đồ, bạn có thể nói:

Moshimoshi, nanika ochimashita-yo.
もしもし、なにか落ちましたよ。
(Xin lỗi, bạn đã đánh rơi thứ gì kìa.)

Khi bạn cần sự giúp đỡ, bạn có thể nói: “Onegai-shimasu” cũng như “Sumimasen”, hoặc “Anoo”.
“Onegai-shimasu” được dùng để gọi nhân viên của một cửa hàng hoặc bồi bàn ở nhà hàng.
“Onegai-shimasu” cũng được dùng với nghĩa “Xin hãy chăm sóc cho tôi / để mắt giúp tôi.” Khi điền và nộp giấy tờ gì đó, chẳng hạn như đơn xin việc hay hóa đơn ở văn phòng chính phủ hay ngân hàng, người ta thường nói:

Ja, yoroshiku onegai-shimasu.
じゃ、よろしくお願いします。
(nghĩa đen: Vậy sau đây, xin hãy để mắt đến nó giúp tôi.)

“Yoroshiku onegai-shimasu” cũng được dùng khi gặp mặt ai đó lần đầu tiên. Có thể bạn vẫn nhớ các ứng cử viên tranh cử quốc hội cứ nói đi nói lại “Yoroshiku onegai-shimasu” trong suốt cuộc bầu cử năm ngoái. Họ cực kì hiếm khi nói thẳng là “Xin hãy bỏ phiếu cho tôi”. “Onegai-shimasu” đã là đủ để họ truyền tải mong muốn, và quan trọng là nó nghe lịch sự hơn vì nó không đề cập quá trực tiếp.

SHIRIMASEN

284 total views, 2 views today

知りません

(Tôi không biết)

Trong giờ nghỉ cafe mấy ngày trước, chị Yoshida có hỏi Lerner về kế hoạch cho thứ 7. Vì chưa biết thế nào nên anh trả lời:

Shirimasen.

知りません。

Yoshida có vẻ bối rối và nhờ Tanaka giúp mình. Chị nói rằng muốn mời Lerner, Tanaka và một số người nữa đến dự tiệc ở nhà, nhưng vì không hiểu câu trả lời của Lerner nên chị không dám hỏi.

Có gì sai khi nói “Shirimasen” thay cho “Tôi không biết” ở đây.

* * *

Trong tình huống trên, một người Nhật sẽ trả lời:

Wakarimasen.

わかりません。

(Nghĩa đen: Tôi không hiểu.)

thay vì “Shirimasen”. Thực tế, người Nhật nói “Wakarimasen” tương đương với người Việt nói “Tôi không biết”. Khi được hỏi về phương hướng hoặc thời gian, họ hay dùng “Wakarimasen” hơn là “Shirimasen”.

“Shirimasen” nghĩa là “Tôi chưa có cơ hội để biết được”; vì thế có thể dùng nó khi bạn không có một thông tin nào đấy. Nhưng trong thực tế thích nói “Wakarimasen” hơn khi họ nghĩ họ đáng lẽ phải biết câu trả lời. Bởi vì chẳng ai hiểu rõ mình hơn chính mình nên trả lời “Shirimasen” khi được hỏi về dự định tương lai thì có vẻ kì lạ. Đôi khi nó mang nghĩa khó nghe hơn kiểu “Cũng chẳng liên quan gì đến tôi”, giống như khi một bà mẹ tức giận nói “Shirimasen” với đứa con ngỗ nghịch của mình, thể hiện thái độ bất cần, không quan tâm đến con.

“Wakarimasen” được ưa dùng khi muốn trả lời câu hỏi mà không ảnh hưởng trực tiếp đến ai, vì nó ngụ ý sự thiếu hiểu biết là của chính mình. Ví dụ, một học sinh không thể trả lời câu hỏi của giáo viên thường nói “Wakarimasen”. Sẽ lịch sự hơn khi nói anh ta không có khả năng để tìm ra câu trả lời hơn là nói anh ta không có có hội để học; nếu cứ khăng khăng nói “Shirimasen” thì có vẻ như anh ta đang đổ lỗi cho giáo viên vì thiếu quan tâm hoặc người hỏi hỏi một điều mà anh ta chưa được học.

Tuy nhiên, khi câu hỏi về một điều gì đó mà có thể ta chưa biết, về nơi chốn hoặc ai đó chẳng hạn, ta có thể dùng “Shirimasen”. Và, khi câu hỏi có dạng …-o shitte-imasu-ka hoặc lịch sự hơn, …-o gozonji-desu-ka (Bạn có biết…), thì câu trả lời nên là “Hai, shitte-imasu” hoặc “Iie, shirimasen”.

ITADAKIMASU

561 total views, 2 views today

いただきます。

(Mời mọi người ăn cơm.)

Cách đây một vài ngày Tanaka có mời Lerner đến ăn bữa tối cùng gia đình. Mọi người chuẩn bị cho bữa ăn đầu năm rất đặc biệt và đầy màu sắc. Anh Lerner cố gắng cư xử đúng mực nhất có thể. Vì thế khi Tanaka nói (theo thói quen của người Nhật):

Nanimo gozaimasen-ga doozo (͡° ͜ʖ ͡°)

何も ございませんが どうぞ。

(Chỉ có bữa cơm đạm bạc này, xin mời)

Lerner đáp lại lịch sự:

Itadakimasu. ≧◉◡◉≦

いただきます。

(Cám ơn – Nghĩa đen: Tôi sắp nhận được sự tiếp đãi của anh/chị).

Ngay sau đó mọi người đều đáp lại đúng câu đó và bắt đầu ăn uống. Lerner hơi nhạc nhiên vì anh nghĩ Itadakimasu chỉ được dùng khi người khách muốn cảm ơn chủ nhà. ⊙.☉

Hầu hết mọi người nói Itadakimasu trước khi ăn và Gochisoo-sama sau khi ăn, kể cả ở nhà của họ. Ở nhà, bố mẹ tập cho con cái không được quên những câu này (gần giống như việc trẻ em Việt Nam được dạy phải biết “Dạ”, “Vâng” khi nói chuyện với người lớn vậy), lúc vào mẫu giáo hay trường tiểu học cũng thế , các giáo viên rèn luyện thói quen cho học sinh. Khi lớn lên, một số bỏ qua kiểu nói này, một số khác vẫn tiếp tục, kể cả khi họ chỉ ăn một mình (xem Naruto ăn ramen (>‿◠)).

Cả Itadakimasu và Gochisoosama đều diễn tả thái độ biết ơn. Sự biết ơn này dành cho bất kì ai hoặc bất kì thứ gì đã giúp tạo ra bữa ăn, thế nên nó được dùng bởi cả chủ nhà và khách.

Khi bạn được ai đó mời dùng bữa, luôn nhớ Itadakimasu trước khi ăn, và Gochisoosama (Nghĩa đen: “Thực sự là bữa ăn tuyệt vời”), hoặc lịch sự hơn “Gochisoosama-deshita”, sau khi ăn xong. Và thường thì chủ nhà sẽ nói câu gì đó để phủ nhận, kiểu thế này:

Osomatsusama-deshita.

お粗末様 でした。

(Không có gì, chỉ là bữa ăn đạm bạc thôi mà).

Người Nhật không có thói quen nói “Rất vui vì bạn thấy ngon miệng”.

Một chú ý khác, Gochisoosama được sử dụng để biểu đạt sự cảm ơn, cả ăn uống và sự hiếu khách. Ví dụ khi rời bữa tiệc ở nhà ai đó, chúng ta thường nói ” Cảm ơn nhiều, hôm nay thật tuyệt!”, nhưng người Nhật chỉ đơn giản nói:

Gochisoosama-deshita.

ごちそうさま でした。

nghĩa tương đương “Cảm ơn vì tất cả mọi điều bạn đã làm, tôi rất vui”.

Và để đơn giản, mọi người chỉ cần hiểu “Itadakimasu” là “Mời cả nhà ăn cơm” như người Việt chúng ta thường nói là được ^^.

AKEMASHITE OMEDETOO-GOZAIMASU

335 total views, 2 views today

あけまして おめでとうございます

(Happy New Year!)

Vào ngày đầu tiên của năm mới, anh Lerner nhận được cả tá thiệp chúc mừng trong mail của anh ấy. Một trong số đó được viết bằng chữ kanji và một số thì viết bằng chữ hiragana, một số khác thì lại có thêm hình ảnh của con rắn- biểu tượng hoàng đạo của năm 1977. Đó là một trải nghiệm thú vị khi thấy rất nhiều thứ được tập hợp cùng nhau như thế, nhưng anh ấy vẫn phân vân tại sao anh ấy lại nhận được chúng trong cùng một ngày. Anh ấy nhớ rằng mình đã không nhận được một tấm thiệp riêng lẻ nào vào tháng 12 trong khi ở Mỹ thì thiệp chúc mừng Giáng sinh bắt đầu đến từ đầu tháng 12 và dần nhiều lên khi đến gần ngày Giáng sinh.

Những tấm thiệp được gửi đi qua mail trước một ngày cố định trong tháng 12 (tháng trước thì là vào ngày 20 tháng 12) thì sẽ được chuyển tới người nhận vào ngày đầu tiên của năm mới. Nếu bạn gửi mail muộn, chúng sẽ như những bức mail thông thường, và không được chuyển đến đúng ngày đầu năm mới, Người Nhật cố gắng gửi thiệp của họ cốt để chúng có thể được chuyển chính xác vào ngày đó bởi vì việc thư đến trước ngày đầu năm mới bị coi là không phù hợp với phép tắc. Có vẻ như điều này liên quan đến chuyện người Nhật không bao giờ chúc nhau những lời chúc năm mới trước ngày 1/1.

Lời chúc mừng bắt đầu vào năm mới và tiếp tục được trao đổi trong khoảng 2 tuần sau đó.

Lời chúc mừng tương ứng thông thường nhất với “Chúc mừng năm mới” đó là:

– Shinnen omedetoo-gozaimasu

(Chúng tôi rất hạnh phúc khi năm mới đến)

– Akemashite omedetoo-gozaimasu.

(Rất vui vì năm mới đã đến)

Và chúng thường được theo sau như thế bởi:

Sakunen-chuu-wa iroiro osewasama-ni narimashita.

Honnen-mo doozo yoroshiku onegai-itashi-masu.

Có hai câu cùng có nghĩa là “Cảm ơn rất nhiều vì tất cả những gì bạn làm cho tôi năm vừa qua, hãy tiếp tục đối xử tốt với tôi như thế nhé!”

Chúng tôi muốn nói rằng:

Honnen-mo doozo yoroshiku onegai-itachi-masu.

本年も どうぞ よろしく おねがいいたします

DOOZO YOI OTOSHI-O

1,948 total views, 4 views today

どうぞ よい お年を

(Chúc anh/chị năm mới vui vẻ)

Khi anh Lerner chuẩn bị rời văn phòng vào ngày trước kì nghỉ, anh muốn chúc năm mới với mọi người trong phòng. Nghĩ là cũng giống lúc nói “Merry Christmas” khi muốn chia tay ai đó một vài ngày trước lễ Giáng sinh, anh chúc:

Shinnen omedetoo-gozaimasu

新年 おめでとうございます。

(Năm mới vui vẻ!)

Mọi người có vẻ rất ngạc nhiên (⊙.⊙(☉_☉)⊙.⊙) và không ai trả lời anh cả. Tanaka giải thích cho Lerner rằng còn quá sớm để chúc như thế, và người Nhật không nói Omedetoo-gozaimasu trước khi sự kiện xảy ra. Thay vào đó, họ thường nói:

Doozo yoi otoshi-o. ⁀⊙﹏☉⁀

どうぞ よい お年を。

(Nghĩa đen: Xin mời gặp năm mới).

Đây là câu nói rút gọn của Doozo yoi otoshi-o omukae-kudasai. Kiểu chào hỏi này chỉ được dùng khi mọi người chia tay trước lúc năm mới, thế nên không dùng cấu trúc yoi…o cho những tình huống khác như chúc chuyến đi tốt hoặc một ngày cuối tuần vui vẻ.

Không phải là người Nhật không muốn chúc may mắn cho người khác, chỉ là không có cách diễn đạt nào cho nó. ╯.╰

Nếu chia tay trước ngày nghỉ cuối tuần, ta có thể nói Sayoonara hoặc Shitsuree-shimasu (Thường thì Sayoonara hay Sayonara nghe không lịch sự và không nên dùng với người trên).

Với ai đó cảm hoặc bệnh nhẹ:

Dozoo odaiji-ni.

どうぞ お大事に。

(Xin hãy bảo trọng).

Với một người chuẩn bị đi xa hoặc chuyển việc:

Doozo oki-o tsukete.

どうぞ お気をつけて。

(Xin hãy cẩn trọng)

Doozo ogenki-de.

どうぞ お元気で。

(Giữ gìn sức khỏe).

Đối với bạn thân, mọi người thường nói đơn giản như là “Chú ý đừng uống nhiều!” hoặc “Cố hết sức nhé!”, hoặc “Cứ kiên nhẫn, mọi thứ rồi sẽ đâu vào đấy”. ᵔ.ᵔ

Câu chào đúng khi ai đó chuẩn bị ra ngoài làm việc hoặc đi chơi là:

Itte-irasshai.

行っていらっしゃい。

(Nghĩa đen: Đi rồi nhanh về nhé!).

Những người Nhật biết tiếng Anh ước họ có thể nói những câu tương tự (“Happy new year”, “Have a good time”…) trong tiếng Nhật, đặc biệt khi có người nước ngoài hỏi họ phải nói câu đó trong tiếng Nhật như thế nào. Một số nói Yoi go-ryokoo-o (Chuyến đi vui vẻ), thế nhưng có vẻ nó vẫn là câu dịch một cách gò bó O﹏o . Chỉ khi chia tay trước lúc năm mới thì họ mới có thể thoải mái nói:

Doozo yoi otoshi-o. ≧◔◡◔≦

どうぞ お年を。

KOKO-DE TOTEME-KUDASAI

389 total views, 2 views today

ここで とめてください

(Xin hãy dừng ở đây)

Một chiều nọ, Lerner cùng Tanaka ra ngoài có việc. Khi taxi tới điểm đến, Lerner nói:

Koko-de tomete-kudasai.

ここで 止めてください。

(Xin hãy dừng ở đây.)

Lúc ra ngoài, Tanaka hỏi Lerner xem có phải anh thấy bực mình vì cách tài xế taxi nói chuyện. Lerner không hiểu tại sao Tanaka lại hỏi như thế, anh thậm chí chẳng đế ý gì ⁀⊙﹏☉⁀ . Tanaka bảo Lerner có vẻ rất tức giận khi yêu cầu lái xe dừng lại.

Koko-de tomete-kudasai là một cấu trúc đúng trong tiếng Nhật, thích hợp để sử dụng trong tình huống của Lerner. Có thể thấy không phải từ mà chính phát âm của Lerner đã gây ra hiểu lầm. Anh phát âm phần tomete-kudasai, rõ ràng và mạnh mẽ, vốn dĩ tự nhiên trong tiếng Anh. Người Nhật lại không phát âm như vậy, anh ta sẽ nói câu cuối đó một cách nhẹ nhàng và âm điệu hạ xuống. Trong khi Koko-de là phần chuyển tải thông tin quan trọng nên cần phát âm mạnh và rõ ràng hơn.

Do đó ta dùng:

KOKO-DE tomete-kudasai (─‿‿─)

ここで 止めてください。

thay vì

Koko-de TOMETE-KUDASAI (҂⌣̀_⌣́)ᕤ

ここで 止めてください。

Nếu bạn nhấn mạnh tomete-kudasai, người nghe sẽ có cảm giác bạn tức giận với tài xế.

Tương tự, khi bạn muốn gặp ai đó qua điện thoại, sử dụng:

YAMADA-SAN-O onegai-shimasu. (─‿‿─)

山田さんを おねがいします。

(Tôi muốn gặp anh Yamada)

chứ không nói:

Yamada-san-o ONEGAI-SHIMASU. (҂⌣̀_⌣́)ᕤ

Sẽ sai lầm khi nghĩ rằng người Nhật nói theo một âm điệu duy nhất. Chúng ta cần chú ý vì giọng của chúng ta cũng mang thông tin, có thể làm người Nhật hiểu lầm và gây ra kết quả không mong muốn. Hãy cố gắng phát âm đúng, mặc dù khó, tuy nhiên nếu bạn làm được thì hiệu quả nó mang lại sẽ đáng ngạc nhiên đấy.

SENJITSU-WA GOCHISOOSAMA-DESHITA

589 total views, no views today

先日はごちそうさまでした。

(Cảm ơn vì đã đối xử tốt với tôi vào lần trước)

Sau 2 tháng không liên lạc, anh Lerner và anh Saito gặp lại nhau vào ngày nọ. Anh Saito chào anh Lerner bằng cách nói:

Senjitsu-wa gochisoosama-deshita.

(Cảm ơn anh vì lần trước đã đối tốt với tôi.)

Lerner rất ngạc nhiên khi Saito nhắc lại lần gặp trước của họ, khi mà nó đã xảy ra khá lâu rồi; và anh còn ngạc nhiên hơn khi anh nhớ rằng lúc đó anh chỉ mời Saito một tách cà phê ở quán thôi mà. Điều đó thì chẳng đáng gì để mà Saito phải tỏ lòng biết ơn một lần nữa sau những 2 tháng.

Nhưng khi bắt đầu chú ý đến nó, thì anh nhận ra hầu hết mọi người cũng đều sử dụng câu này giống cách anh Saito dùng. Lerner không thể không tự hỏi, liệu có phải trí nhớ của anh phải cực kì tốt để có thể giao tiếp một cách lịch sự ở Nhật?

Câu trả lời cho câu hỏi của anh Lerner là: đúng như vậy. Một người Nhật phải ghi nhớ và tỏ lòng biết ơn với những ân huệ họ nhận được ở lần gặp trước. Bạn có thể nghĩ điều này chẳng cần thiết vì bạn đã cảm ơn rất đúng mực tại thời điểm đó rồi, nhưng đây là phong tục của Nhật và sẽ là bất lịch sự nếu bạn không làm vậy.

Phong tục này có lẽ sẽ gây cho bạn ấn tượng rằng, người Nhật quá để ý đến khoản tiền họ bỏ ra để tiếp đãi người khác, nhưng thực sự thì không phải vậy đâu. Việc ghi nhớ rằng hai người đã gặp nhau và có khoảng thời gian vui vẻ với nhau, thì quan trọng hơn việc ai đã đãi ai. Bạn vẫn nên đề cập đến lần gặp trước, kể cả khi lần đó không ai mời ai cái gì; trong những lúc như vậy bạn hãy nói:

Senjitsu-wa shitsuree-shimashita.

先日は失礼しました。

(Lần trước tôi đã thất lễ rồi.)

thay vì dùng “Senjitsu-wa gochisoosama-deshita.” Điều quan trọng là thể hiện ra rằng bạn và người nghe nhớ đến việc chia sẻ cùng một trải nghiệm; khi chia sẻ cùng một sự kiện / có cùng trải nghiệm với nhau thì sẽ giúp mối quan hệ giữa hai bạn thêm tốt đẹp. Người Nhật quan niệm rằng, việc bắt đầu bằng cách tạo lập một mối liên kết tốt đẹp trước khi bàn chuyện công việc là cực kì cần thiết. Đó là vì sao mà cách nói này lại được dùng như một câu chào hỏi, trong khi một người nói tiếng Anh sẽ chỉ chào nhau: “How have you been?” hay đơn giản là “Hello”.

Chúng tôi đã nghe vài người Nhật phàn nàn rằng những người Mỹ họ quen không tuân theo phong tục này; thậm chí họ còn nghĩ như vậy là rất khiếm nhã.