Những cách học tiếng Nhật sai lầm cần tránh

1,311 total views, 2 views today

Khi học tiếng Nhật, trong số chúng ta có rất nhiều người đã bắt đầu bằng cách thử hết cách này tới cách khác – để có thể tìm được cách học tiếng Nhật phù hợp nhất với bản thân. Đúng không nào? Tuy nhiên, trong một biển lời khuyên cũng như hàng triệu kết quả trên Google search, có rất nhiều cách học tiếng Nhật dễ bị hiểu sai. Từ đó bị áp dụng sai.

Làm thế nào để phân biệt được đâu là lời khuyên thực sự có ích? Đâu là những lầm tưởng khi học tiếng Nhật khiến bạn học sai cách?

Cách học tiếng Nhật qua chữ romaji

Romaji là chữ phiên âm cách đọc tiếng Nhật sang chữ Latin. Romaji hẳn sẽ làm nhiều người chưa quen thuộc với hệ thống chữ ngoài chữ Latin cảm thấy “dễ thở” hơn khi học tiếng Nhật.

Tuy nhiên, ngoài mục đích ban đầu là để giúp bạn làm quen với tiếng Nhật, cũng như học cách đọc các bảng chữ cái, thì romaji không nên được sử dụng thường xuyên nữa. Đã có rất nhiều bạn trở nên phụ thuộc vào cách phiên âm tiếng Nhật theo romaji để rồi bị nản. Khi số lượng kiến thức tăng lên bạn sẽ thấy chữ romaji sẽ làm bạn rối loạn giữa một đống các từ na ná nhau. Bạn sẽ không thể tự đọc khi nhìn chữ tiếng Nhật, nhất là kanji. Hoặc cũng không phân biệt được hai từ có chung cách đọc/phiên âm romaji.

Hãy từ bỏ cách học tiếng Nhật qua chữ romaji ngay khi bạn thành thạo hiragana. Và hãy tập học từ vựng qua chính kanji kèm phiên âm hiragana.

Học nghe tiếng Nhật một cách thụ động quá nhiều

Hẳn bạn đã biết đến phương pháp học nghe tiếng Nhật thụ động?

Đó là xem phim Nhật không phụ đề dù bạn không hiểu gì. Đó là nghe nhạc Nhật không cần nhìn lời bài hát (kể cả bạn cũng không hiểu gì nốt). Là bật đài/TV tiếng Nhật trong khi nấu cơm, rửa bát, hay lúc ngủ….

Học nghe tiếng Nhật thụ động không phải là một cách học tiếng Nhật sai lầm. Nhưng bạn cần phải hiểu rõ là học thụ động chỉ nên chiếm phần cực kì nhỏ trong quá trình học tiếng Nhật của bạn. Bởi, mất cực kì nhiều thời gian để nghe tiếng Nhật thụ động thực sự hiệu quả cho bộ não của bạn. Mặc dù việc đi ngủ hay ngồi chơi giải trí mà cũng học được tiếng Nhật nghe rất hấp dẫn – nhưng nên nhớ rằng trong bất kì việc gì, kết quả bạn thu được sẽ tương đương với công sức bạn bỏ ra.

Thay vì dành phần lớn thời gian xem phim, nghe đài hay nghe băng, bạn nên dành thời gian nhiều hơn cho luyện nghe tiếng Nhật chủ động. Đó là kiểu học nghe rồi tự tạo hội thoại rồi kết hợp luyện nói, hoặc nghe nhưng tự viết ra những từ mình nghe được, hát to theo bài hát… có như vậy mới mong tiến bộ nhanh hơn trong phần luyện nghe tiếng Nhật được.

Xem phim/anime/gameshow tiếng Nhật để giải trí kiêm học tiếng Nhật

Bạn sẽ thất vọng khi biết rằng, một khi đã nghĩ xem phim/anime/gameshow là để giải trí là chính, thì bạn sẽ không thể tận dụng hết được nguồn học tiếng Nhật to lớn này. Xem với mục đích giải trí (học là phụ) thì bạn sẽ chỉ xem xong rồi để đấy. Sau một tuần thì có lẽ những gì bạn đã xem đã trôi tuột đi đâu rồi.

Đọc sách/tiểu thuyết viết bằng tiếng Nhật đến khi hiểu hết

Bạn đã từng thử đọc một cuốn tiểu thuyết tiếng Nhật kèm một cuốn từ điển + một lô bút màu, giấy nhớ chưa?

Rất nhiều người học tiếng Nhật đã từng thử đọc sách, tiểu thuyết tiếng Nhật kiểu này với hi vọng khi mình đọc hết cuốn sách, tra toàn bộ từ mới trong sách, thì sẽ trở nên thành thạo tiếng Nhật hơn rất nhiều.

Tuy nhiên, sự thực phũ phàng là đa số sẽ bỏ cuộc sau 2 tuần. Bởi đối với trình độ tiếng Nhật sơ cấp hoặc trung cấp, học tiếng Nhật qua sách truyện như vậy là quá sức. Có khi hai tuần mới đọc được 2 tờ sách – tức là 4 mặt giấy. Vậy là lại bị nản và không thể hoàn thành được mục tiêu.

Việc luyện đọc qua sách báo tiếng Nhật là cần thiết nhưng đừng để việc này làm bạn mất thời gian không cần thiết (cứ vài chữ lại phải tra từ điển chẳng hạn). Ngoài ra, nếu không lựa chọn đúng chủ đề, tiếng Nhật của bạn cũng sẽ bị ảnh hưởng bởi bạn sẽ bị giới hạn trong lối viết, suy nghĩ của một cá nhân duy nhất (tác giả).

Hãy tìm đọc những nguồn luyện đọc tiếng Nhật theo đúng trình độ của mình. Nếu đọc tiểu thuyết/sách truyện tiếng Nhật, hãy ưu tiên đọc sách đã có bản dịch tiếng Việt. Như vậy bạn sẽ đỡ mất công đoán nghĩa của câu và tránh hiểu lầm ý tác giả. Ví dụ, bạn có thể order light novel Your name bản Nhật (khoảng 200k về đến tay) và kết hợp đọc Your Name bản dịch tiếng Việt.

Một số tips khi đọc sách tiếng Nhật:

  • Đọc và phân tích từng đoạn nhỏ
  • Đọc bằng tiếng Nhật trước. Phân tích câu, tự dịch và sau đó mới check lại bản tiếng Việt
  • Viết lại những từ lặp lại nhiều lần mà bạn chưa biết (nên dùng flashcard như Quizlet)
  • Nếu được, nhờ người bản ngữ đọc đoạn văn theo tốc độ bình thường để học nói theo họ (nếu sách có bản audio thì quá tuyệt vời). Hoặc ghi lại giọng đọc của bạn và nhờ người giỏi tiếng Nhật, người bản ngữ sửa cho

Học tiếng Nhật chỉ để thi lấy bằng JLPT

Thực tế là có rất nhiều người đổ xô đi học tiếng Nhật chỉ để có tấm bằng JLPT. Nguyên nhân xuất phát từ việc các công ty tuyển dụng nhân sự tiếng Nhật lấy bằng JLPT làm thước đo đánh giá trình độ Nhật ngữ của ứng viên. JLPT là một trong những chứng chỉ tiếng Nhật uy tín. Nhưng mặt khác nó không phản ánh hết năng lực tiếng Nhật thực sự của người học.

Kì thi JLPT là thi trắc nghiệm vì thế yếu tố hên xui khá cao. Nhiều khi không biết câu trả lời nhưng cũng điền bừa mà lại đúng. Hơn nữa, kì thi JLPT không có phần thi nói như thi IELTS tiếng Anh. Nên kì thi này cũng sản sinh ra vô số người có bằng tiếng Nhật tốt nhưng không thể nói chuyện, giao tiếp bằng tiếng Nhật.

Chưa kể đến hàng loạt các trung tâm luyện thi. Luyện thi theo đúng nghĩa – tức là bạn sẽ học các mẹo, các mánh để trả lời được bài thi mà không phải là học và hiểu tiếng Nhật thực sự. Vì thế nên mới mọc ra rất nhiều các cam kết “Giật N3 trong vòng 6 tháng” dành cho người chưa biết gì về tiếng Nhật. Tốt thôi. Bạn có thể sẽ có bằng N3 trong 6 tháng thật. Nhưng chúng mình đảm bảo khi vận dụng vào thực tế, năng lực thật sự của bạn sẽ được phơi bày.

Hãy học tiếng Nhật sao cho bạn có thể sử dụng nó trong công việc và học tập. Đừng học vì một tấm bằng mà chỉ chú trọng luyện đề, học vẹt, không đi sâu vào vận dụng tiếng Nhật thành thạo.

Chờ đến khi tích lũy đủ vốn từ mới học nói tiếng Nhật

Hãy học nói tiếng Nhật và thực hành giao tiếp ngay khi bạn học tiếng Nhật sơ cấp. Luyện nói từ bài ngữ pháp và từ vựng đầu tiên. Đừng chờ tới khi bạn thấy mình sẵn sàng để luyện nói. Vì đơn giản, não bạn sẽ khiến bạn trì hoãn với ý nghĩ: bạn chưa sẵn sàng. Hơn nữa, đừng nghĩ là vốn từ ít thì không nói tiếng Nhật được.

Luyện nói thú vị ở chỗ, bạn có thể nói các cụm từ thôi, chẳng cần nói hết câu nhưng người nghe vẫn hiểu (hãy xem cách người Nhật loại bỏ hết các trợ từ không cần thiết trong hội thoại hàng ngày của họ).

Kết,

Dù bạn ở trình độ tiếng Nhật nào, bạn nên chăm chỉ dành thời gian học mỗi ngày. Nếu muốn thật sự giỏi tiếng Nhật bạn hãy nhớ điều này. Đừng hứng lên thì học thật nhiều rồi lại bỏ xó. Hơn nữa, hãy biết xác định mục đích học tiếng Nhật của bản thân. Như vậy bạn sẽ có kế hoạch và chiến lược học phù hợp. Đồng thời, bạn cũnng tránh được những cách học tiếng Nhật kém hiệu quả, mất thời gian.

Thuận lợi và khó khăn của người Việt khi học tiếng Nhật

350 total views, no views today

Trước khi bắt đầu bất kì công việc nào bạn nên xác định được thuận lợi và khó khăn của mình là gì. Với việc học tiếng Nhật cũng vậy. Hiểu được khó khăn và thuận lợi của người Việt khi học tiếng Nhật sẽ giúp bạn xây dựng kế hoạch và phương pháp học tập phù hợp để đạt kết quả tốt hơn

Sau đây là những thuận lợi và khó khăn của người Việt khi học tiếng Nhật:

Thuận lợi

  • Nhiều điểm tương đồng trong phát âm
    Chữ kanji trong bảng chữ cái của người Nhật là chữ có nguồn gốc từ Trung Quốc. Trong khi đó tiếng Việt lại có nhiều âm Hán. Từ đó dẫn tới nhiều điểm tương đồng trong phát âm. Ví dụ: từ “thái độ” trong tiếng Nhật là 態度 (taido), từ “quốc ca” trong tiếng Nhật là 国歌 (kokka), từ “quốc kì” trong tiếng Nhật là 国旗 (kokki)….
  • Nhiều cơ hội mở ra khi có tiếng Nhật
    Khi thành thạo tiếng Nhật và có chứng chỉ JLPT cơ hội việc làm của bạn sẽ rộng mở hơn. Bạn có thể làm tại công ty Nhật ở Việt Nam hoặc sang Nhật làm việc với mức lương lên tới 3000USD
  • Tiếng Nhật phát âm khá dễ, viết thế nào nói như thế.
    Cũng giống như tiếng Anh, tiếng Nhật có 5 nguyên âm: u-ê-o-a-i và được đọc lần lượt là ư-ê-ô-a-i. Các âm khác được đọc bằng cách ghép thêm các phụ âm như k-m-m-s….vào trước nguyên âm và đọc tương tự như vậy. Phát âm tiếng Nhật theo kiểu viết sao nói vậy nên rất dễ học. Bạn chỉ cần nhớ được mặt chữ và ý nghĩa của từ đó nữa là đủ.

Khó khăn

  • Bảng chữ cái tiếng Nhật rất nhiều chữ và khó nhớ
    Tiếng Nhật có 3 bảng chữ cái là Hiragana, Katakana, và Kanji. Trong đó, riêng bảng chữ Kanji có khoảng 2136 chữ thông dụng cần phải ghi nhớ. Việc nhớ 3 bảng chữ này đòi hỏi kiên trì, quyết tâm cao. Rất nhiều bạn không có đủ kiên nhẫn để làm được.
  • Cách viết chữ Nhật khác chữ Việt
    Cách viết của chữ Nhật khác chữ latinh. Các chữ trong tiếng Nhật rất nhiều nét và nhiều phần khác nhau.
  • Ngữ pháp
    Ngữ pháp khác với tiếng Việt và tiếng Anh, cấu trúc “chủ ngữ – vị ngữ – động từ” dễ nhầm lẫn.
    Ví dụ: Câu “Mèo ăn chuột” trong tiếng Nhật là:
    – Neko-ga nezumi-wo taberu (mèo chuột ăn)
    có thể được nói hoặc viết thành:
    – Nezumi-wo neko-ga taberu (chuột mèo ăn)
    Nghĩa của hai câu trên vẫn như nhau, không hề có bất cứ sự biến đổi nào.
  • Không giữ được động lực học, dễ bỏ cuộc
    Chữ cái và ngữ pháp trong tiếng Nhật rất khó học và khó nhớ. Người học thường sẽ dễ quên và học khó vào. Từ đó dẫn tới cảm giác chán chường, và không còn động lực tiếp tục học.

Tại sao Nhật Bản lại đón 2 Tết trung thu

75 total views, 2 views today

Cứ đến dịp Tết trung thu hàng năm các nước ở Châu Á cùng nhau đón trung thu, tuy nhiên mỗi nước đều có một truyền thống đón lễ hội trung thu khác nhau. Riêng ở đất nước mặt trời mọc Nhật Bản người ta đón tới 2 lễ Tết trung thu trong một năm. Tại sao Nhật Bản lại đón 2 Tết trung thu như vậy ?

Khác với Việt Nam trung thu được tổ chức 1 lần vào ngày 15 tháng 8 âm lịch, tết trung thu ở Nhật Bản được tổ chức 2 lần mỗi năm. Lần đầu tiên được gọi là Zyuyoga gắn liền với phong tục ngắm trăng Otsuki-mi. Lần thứ hai tổ chức là Zyusanya, tuy nhiên bài viết này sẽ tập trung giới thiệu lễ trung thu cơ bản nhất: Otsukimi.

Otsukimi, ( お月見 ) còn được gọi là tsukimi (月见), dịch theo nghĩa đen là ngắm trăng (Tsuki là trăng, mi là ngắm, nhìn). Lễ hội này được ra đời nhằm tôn vinh mặt trăng trong mùa thu – mùa có thể nói là trăng được tròn nhất. Otsukimi thường được diễn ra vào ngày 15 tháng thứ 8 trong âm lịch. Sở dĩ nó được tổ chức vào những ngày này vì từ thời xưa, người Nhật đã coi thời gian này là trăng đẹp và tròn nhất trong năm( 中秋の明月chushu no meigetsu). Otsukimi có nguồn gốc từ Trung Quốc, được du nhập vào Nhật Bản từ thời Heian.

Ở thời Heian, các nhà quý tộc thường tụ tập làm thơ, uống sake và ăn các món ăn truyền thống gắn liền với mặt trăng. Hiện nay vẫn vậy chỉ có sáng tác thơ vào ngày này thì khá hiếm. Các món ăn truyền thống gắn liền là cỏ Susuki, Tsukimi Dango. Đó chính là hai món cơ bản nhất, ngoài ra người Nhật còn bày biện thêm hoa quả để đẹp mắt, hạt dẻ, khoai môn, edamame,… Sở dĩ họ còn bày biện hạt dẻ, khoai môn edamame là vì có một số truyền thống xuất phát như: Imomeigetsu (nghĩa là “thu hoạch khoai tây mặt trăng”) và Mamemeigetsu (“thu hoạch đậu mặt trăng”), hoặc Kurimeigetsu (“thu hoạch hạt dẻ mặt trăng”).

Người Nhật Bản thưởng trang trí bằng cỏ susuki (cỏ này có người gọi là cỏ bông bạc, có người gọi là cỏ mèo,…) thay vì hoa còn Tsukimi-Dango thì được bày theo hình tam giác trên một chiếc kệ gỗ, bên cạnh bình cỏ, và cũng có thể có thêm một số loại hoa quả nữa. Sau đó họ đặt kế lên hiên nhà, hoặc gần bên cửa sổ, bất cứ chỗ nào có thể nhìn thấy trăng rõ nhất, để vừa ăn vừa ngắm trăng.

Theo quan niệm của người Nhật Bản, trên mặt trăng không có chị Hằng Nga, chú Cuội như Việt Nam mà chỉ có thỏ ngọc sống trên đó. Họ cho rằng vào ngày này, thỏ ngọc trên mặt trăng thường giã bánh Tsuki-Dango.

Bánh trung thu của Nhật Bản khác hoàn toàn bánh trung thu Trung Quốc và Việt Nam ở chỗ không có trứng muối ở bên trong. Chính vì vậy, hầu hết người Nhật đều không biết có tồn tại một loại bánh trung thu như thế.Tuy Otsukimi có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng nó đã trở thành một phong tục tập quán rất riêng và rất đặc sắc của người Nhật. Nó là một nét văn hóa không thể thiếu trong dịp tết trung thu Nhật Bản và điều đó làm nên một màu sắc truyền thống riêng biệt trong văn hóa của Nhật Bản. Otsukimi là một lễ hội truyền thống của Nhật Bản, có một lịch sử riêng, văn hóa riêng, tách ra thành một lễ hội truyền thống riêng với các nước khác.

Người Nhật từng không mang họ!

59 total views, 2 views today

Có một sự thật về nước Nhật mà chắc hẳn sẽ khiến bạn bất ngờ đấy. Trước cải cách Minh Trị, 80% dân số Nhật không có họ. Hiện nay Nhật Bản là nước có nhiều họ nhất trên thế giới với hơn 120.000 dòng họ, và  người Nhật đôi lúc cũng không biết đọc, viết họ của đồng bào mình ra sao.

Dòng họ ở Nhật lấy từ…cây cối, rau củ, tôm cá 

Cho đến thế kỷ 17, tên của người Nhật đã được sử dụng khá rộng rãi , thế nhưng người Nhật có rất ít dòng dõi có họ (trừ gia đình vương tướng, quý tộc). Trước cải cách Minh Trị, 80% dân số Nhật không có họ. Kể từ những năm 1883, để tiện việc quản lý, mỗi người dân bắt buộc phải tự chọn và đăng ký họ cho riêng mình.

Công cuộc tìm kiếm “cái họ” cũng là một câu chuyện lịch sự khôi hài, đa số họ nhờ những người tri thức, trưởng thôn đặt giúp… chủ yếu theo đặc điểm của vị trí gia đình, cây cối, và thậm chí là theo họ của hàng xóm. Nhà có cây tùng thì lấy họ là Matsushita (nghĩa: dưới gốc tùng); nhà trước con sông thì lấy họ Maekawa (nghĩa: con sông phía trước); ai ở trong núi thì mang họ là Yamashita, ai ở ngoài đảo thì lấy họ: Nakajima…và hơn 90% dòng họ ở Nhật được đặt theo hình thức này. Ở tỉnh Achi, có một ngôi làng mang toàn họ thực vật: Daikon (củ cải), Ninjin (Cà rốt)… Có làng lại mang toàn tên tôm, cá: Tai, Himera… – thật chẳng dễ dàng cho công việc đưa thư.

Một số đặt ghép theo họ của dòng dõi nổi tiếng: Fujiwara. Họ ghép chữ Fuji vào tên địa phương: Kato, Ito, Sato, Saito, Koto, Goto… tạo ra những tên họ như: Fujikato, FujiIto….trong khi hậu duệ của Fujiwara mang họ: Fujikawa, Fujimoto, Fujiwara.

Thiên Hoàng lại là những người … không mang họ

Điều đặc biệt nhất trên thế giới, Thiên Hoàng Nhật Bản trải qua hơn 100 đời chỉ duy nhất chỉ có một dòng dõi, và còn thú vị hơn nữa là … dòng dõi duy nhất không có họ tại đất nước nhiều họ nhất thế giới này.

SANJIPPUN-SHIKA ARIMASEN KARA… : Tôi chỉ có 30 phút thôi, thế nên…

784 total views, 3 views today

三十分しか ありませんから…

Tôi chỉ có 30 phút thôi, thế nên…

Cách đây mấy ngày Yoshida có nhờ Lerner giúp việc gì đó. Hôm đó Lerner khá bận nên anh chỉ rảnh rỗi được khoảng 30 phút. Vốn không thích phải gấp gáp trong công việc, anh nói:

今日は三十分だけ ありますから...
Nghĩa là “Hôm nay tôi chỉ có 30 phút thôi, thế nên…” .

Anh mong Yoshida sẽ hiểu là anh không có thời gian để giúp cô, thế nhưng cô lại hỏi lại “やって くださるんですね” (Vậy anh sẽ giúp tôi phải không?). Khi Lerner nói anh rất bận và chỉ có thể giúp cô vào hôm sau, Yoshida quay về và trông có vẻ khó hiểu.
Anh Tanaka sau đó nói rằng Lerner đáng lẽ nên nói:

今日は三十分しか ありませんから...
Có nghĩa là hôm nay anh chỉ có khoảng 30 phút nên anh không thể giúp được.

Lerner cũng đã học cấu trúc “…shika + phủ định”, có nghĩa “chỉ có…” nhưng anh tưởng nó cũng giống “…dake + khẳng định” nên dùng nó khá thường xuyên.

Thực ra hai diễn đạt này không giống nhau; …だけ biểu thị một lượng chính xác, nghĩa là “không nhiều hơn và cũng không ít hơn”, trong khi đó …しか…ない ý rằng số lượng đề cập đến rất nhỏ đối với người nói. Thế nên khi ai đó nói “Sanjippun-shika arimasen-kara…”, người nghe ngay lập tức hiểu rằng thời gian rất giới hạn nên đề nghị của anh ta không thể thực hiện được. Ngược lại, nếu là “Sanjippun-dake arimasu-kara” thì nghĩa là người nói có chính xác 30 phút, không rõ ràng ý anh ta sẽ làm gì. Có thể anh ta muốn nói 30 phút là đủ để làm xong việc đó hoàn toàn, hoặc anh ta chỉ có thể làm một phần nào đó của kế hoạch. Sự khác biệt quan trọng giữa …dake aru và …shika…nai là “dake” không đưa ra chủ ý cụ thể nào và người nghe thường phải đợi người nói kết thúc câu mới hiểu được.

Sự khác biệt này cũng đúng khi nói về tiền bạc. Nói rằng “Juuman-en shika arimasen-kara” có nghĩa số tiền đó không đủ để thực hiện, trong khi “Juuman-en dake arimasu-kara” nghĩa là số tiền đó có thể dùng để làm gì đó, mặc dù không cụ thể ra.

Khi đề cập đến sự lưu loát trong tiếng Nhật, nếu bạn muốn nhấn mạnh rằng kiến thức của bạn còn rất nhỏ, bạn nên nói “日本語は少し しかできません” hơn là “日本語は少し だけ できます”. Hầu hết người Nhật sẽ thấy câu sau rất lạ vì họ không hiểu thực sự bạn muốn nói gì.

SUMIMASEN : Xin lỗi

545 total views, no views today

すみません

Xin lỗi

Thứ Bảy vừa rồi anh Lerner được mời đến dùng bữa tối ở nhà anh Takada, Anh mang theo ít kẹo cho con trai anh Takada. Khi anh đưa kẹo cho cậu bé, chị Takada nói:

Maa, doumo sumimasen.
nghĩa đen: Ôi, tôi rất xin lỗi

rồi bảo con trai cảm ơn anh. Cậu bé liền nói:

Ojisan, arigatou.
Cháu cảm ơn chú

sau đó cậu thêm “gozaimasu” vào cuối câu; có lẽ cậu đã được dạy rằng phải luôn lễ phép, lịch sự.

Khi Lerner mới học tiếng Nhật, anh đã nghĩ rằng Sumimasen chỉ mang nghĩa “Tôi xin lỗi” hoặc “Làm phiền anh một chút”, và băn khoăn tại sao người Nhật lại xin lỗi trong trường hợp họ nên cảm ơn mới phải. Giờ thì anh hiểu ra rằng, Sumimasen còn được dùng như một cách bày tỏ lòng biết ơn và nó còn được dùng thường xuyên, có khi là thường xuyên hơn Arigatou hay Arigatou gozaimasu. Nhưng anh vẫn chưa hiểu sự khác nhau giữa hai cách diễn đạt này khi dùng để biểu lộ sự biết ơn.

Sumimasen sẽ được dùng để bày tỏ lòng biết ơn khi ai đó cảm thấy rằng họ không xứng đáng được nhận lòng tốt hoặc họ không mong chờ lòng tốt ấy xảy ra. Khi anh Lerner đưa kẹo cho cậu bé, mẹ cậu nói Sumimasen bởi vì mẹ cậu đã không mong đợi lòng tốt này. Nếu cô ấy nói Arigatou gozaimasu thì nghe có vẻ như là cô ấy đã mong chờ việc anh Lerner cho con trai cô ấy kẹo. Bé trai thì con quá nhỏ để nhận thức điều này, nên bé chỉ nói:

Arigatou.
ありがとう。

Nhiều người Nhật cảm thấy Sumimasen nghe lịch sự hơn Arigatou (gozaimasu), nhưng sự khách nhau không đơn giản là chỉ ở mức độ lịch sự mà còn là ở thái độ tâm lý của người nói. Nó phụ thuộc vào việc người nói cảm thấy thế nào về sự giúp đỡ của người khác làm cho anh ta; và do đó anh ta sẽ chọn Sumimasen hoặc Arigatou (gozaimasu).

Giả sử rằng, bạn thấy ai đó đánh rơi đồ trên phố và bạn nhắc anh ấy. Trong trường hợp này, vài người sẽ dùng Sumimasen để cảm ơn bạn, trong khi có người lại dùng Arigatou (gozaimasu). Nhìn chung, phụ nữ và người già thường dùng Sumimasen, còn đàn ông và người trẻ tuổi lại thích dùng Arigatou (gozaimasu) hơn.

ATSUKU NATTAN DESUNE : Trời đã trở nên nóng đấy nhỉ

1,279 total views, 4 views today

暑くなったんですね。

(Trời đã trở nên nóng đấy nhỉ)

Gần đây anh Lerner có để tâm đến cách người Nhật kết thúc câu và nhận thấy rằng, họ dùng n-desu với mức độ thường xuyên như masu và desu vậy. Có nghĩa là, họ hay nói Itta-n desu và Isogashii-n-desu hơn là Ikimashita và Isogasgii-desu.
Sáng hôm qua, Lerner đã áp dụng cấu trúc này khi nói chuyện với anh Takada:

Atsuku natta-n-desu-ne.
với nghĩa: Thời tiết đã trở nên nóng nhỉ.

Anh Takada ngập ngừng một chút trước khi trả lời Soo-desu-ne. Có vẻ anh ấy đã cố hiểu xem ý Lerner là gì khi nói câu đó.
Sau chuyện này, Lerner bắt đầu chú ý lắng nghe cách mọi người nói về thời tiết, và thấy họ hay sử dụng:

Atsuku narimashita-ne.
暑くなりましたね。

hoặc
Kinou wa yoku furimashita-ne.
きのうはよく降りましたね。

trong khi Atsuku natta-n-desu-ne hoặc Kinou wa yoku futta-n-desu-ne lại không bao giờ được dùng khi mào đầu một cuộc hội thoại bằng cách đề cập đến thời tiết.

Atsuku narimashita-ne chỉ đơn giản là chỉ ra một sự thật, còn Atsuku natta-n-desu-ne lại bao hàm một tình huống cụ thể. Hàm ý trong câu này có thể là người nói nhận thấy một ai đó (bao gồm cả người nghe) đã chuyển sang mặc quần áo mùa hè; hoặc trông mệt mỏi, kiệt sức dưới cái nóng hoặc đang uống cốc nước mát. Nói cách khác, Atsuku natta-n-desu-ne có thể được hiểu là: “Đó là vì trời đã trở nên nóng đấy nhỉ (nên mới có những hành động kể trên).”

Câu kết thúc bằng n-desu-ka không được dùng để hỏi khi bắt đầu câu chuyện, trử khi có một tình huống cụ thể nào đó. Ví dụ, nếu bạn hỏi:

Isogashii-desu-ka.
Anh bận à?

thì bạn chỉ đang đơn giản là hỏi anh ấy có đang bận hay không mà thôi. Nhưng nếu bạn nói:

Isogashii-n-desu-ka.

thì nó có thể có nghĩa: “Anh trông mệt mỏi thế này có phải vì quá bận rộn không?” hay “Có phải anh quá bận đến nỗi không đi uống với chúng tôi được à?”, … tùy vào tình huống. Vì thế câu hỏi đuôi n-desu truyền tải nhiều cảm xúc khác nhau, từ quan tâm, ngạc nhiên, giận dữ đến chỉ trích. Nếu bạn dùng cấu trúc này để hỏi ở trong tình huống không phù hợp, thì người nghe sẽ thấy khó hiểu hoặc thậm chí cảm thấy bị xúc phạm.

YAPPARI : Sau đó thì…

2,977 total views, 2 views today

やっぱり...

Sau đó thì…

Cách đây mấy ngày Lerner bị lạc khi đang đi bộ trên phố, vậy nên anh gọi một cậu thanh niên và hỏi đường đến nhà ga điện ngầm gần đó. Cậu ta nói:

Soo-desu-nee…Yappari kono michi-o massugu itte…
そうですねえ…やっぱり この道をまっすぐ行って。
(Nghĩa đen : Đúng rồi, sau đó thì đi thẳng theo con đường này..)

Lerner biết Soo-desu-nee  ở đây nghĩa là Để xem nào nhưng anh không hiểu tại sao cậu ấy lại dùng yappari .
Theo như từ điển thì Yappari nghĩa là sau đó thì hoặc đúng như tôi nghĩ , tuy nhiên ở đây cậu ta lại không hề đề cập đến cái gì trước đó.

Lerner cũng để ý nhiều người Nhật hay bắt đầu câu bằng yappari , đặc biệt khi đáp lại câu hỏi của ai đó.
Từ này hay được dùng mà không gắn với một nghĩa cụ thế nào, đến mức một số người Nhật nói nó không có nghĩa và nên hạn chế phạm vi sử dụng. Tuy nhiên, nó vẫn có ý nghĩa nhất định trong giao tiếp.

Khi anh bạn kia trả lời với Lerner là Yappari kono michi-o massugu itte… , thì yappari  ở đây ám chỉ :Tôi đã xét nhiều cách khác nhau để đi, và sau cùng thì tôi nghĩ đi theo đường này là tốt nhất .
Theo khía cạnh nào đó, nó thể hiện người nói đang trả lời một cách tỉnh táo và sáng suốt. Điều đó giải thích tại sao người Nhật hay bắt đầu câu trả lời bằng yappari .
Ý nghĩa và sắc thái mà yappari tạo ra trong câu phụ thuộc vào ngữ cảnh. Nó sẽ thích hợp và thân thiện hơn khi dùng để trả lời câu hỏi giúp người khác. Nhưng khi ai đó bắt đầu bằng từ này để trình bày ý kiến bản thân mà không được hỏi thì sẽ tạo ấn tượng quyết đoán hơi thái quá, đôi khi hơi hùng hổ.

Nó cũng tạo cảm giác là chủ đề đã được bàn bạc từ trước giữa người nghe và người nói, góp phần tạo không khí thân mật. Một số người chủ động sử dụng ảnh hưởng này một cách có mục đích ; ví dụ, người thương gia sẽ nói thế này khi thuyết phục một khách hàng có tiềm năng :

Yappari kore-ga ichiban-desu-yo.
(Cuối cùng thì cái này là tốt nhất đấy).

kể cả khi anh ta không định đưa ra so sánh nào.

Yapparri  là một trong những từ được dùng trong ngôn ngữ thông thường khi mà chúng ta có thể bộc lộ cảm xúc một cách tự do ;
Trong ngữ cảnh lịch sự hơn, từ « kekkyoku » được dùng để thay thế.

YOMOU-TO OMOIMASU : Tôi nghĩ mình sẽ đọc chúng

4,097 total views, 6 views today

読もうと思います

(Tôi nghĩ mình sẽ đọc chúng)

Mấy hôm trước, anh Lerner mang về nhà đống giấy tờ mà anh không đủ thời gian đọc ở công ty. Khi đang sắp xếp chúng thì anh Takada đến rủ anh Lerner đi đâu đó. Lerner chỉ vào chồng tài liệu và nói:

Konban yomu-to omoimasu.
今晩読むと思います。

với ý nghĩa “Tôi nghĩ tôi sẽ đọc chúng tối nay.” Nhưng Takada không hiểu ý anh và hỏi: “Dare ga?” (Ai sẽ đọc cơ?). Lerner băn khoăn tại sao Takada lại hỏi vậy; nhiều người từng bảo anh rằng trong câu tiếng Nhật thì chủ ngữ có thể được lược bỏ khi hai bên đều đã hiểu rõ ngữ cảnh cơ mà.
Thật ra, nếu Lerner nói:

Konban yomou-to omoimasu.
今晩読もうと思います。

thay vì “Konban yomu-to omoimasu” thì Takada đã hiểu ngay rồi.
“Yomu-to omoimasu” có nghĩa là người nói nghĩ rằng một ai khác sẽ đọc tài liệu, chứ không phải bản thân anh ta sẽ đọc.

Để cho biết ý định của chính mình, ta phải dùng một thể khác của động từ ở trước “~to omoimasu”. Thể này thường được gọi là “động từ thể ý chí”; thể ý chí của “yomu” (đọc) là “yomou”, của “iku” (đi) là “ikou”.

Người Nhật lược bỏ chủ ngữ của câu bất cứ khi nào có thể, nhưng có những quy tắc và phương thức để tránh sự hiểu nhầm hay sự mơ hồ khi trong câu không có chủ ngữ. Việc sử dụng một cách đa dạng các thể của động từ chính là một trong những phương thức ấy. “Yomou-to omoimasu” và “Yomu-to omoimasu” là 2 câu hoàn toàn khác nhau, giống như “Tôi nghĩ tôi sẽ đọc chúng” và “Tôi nghĩ anh ấy sẽ đọc chúng” vậy.
Nếu được hỏi về dự định cho ngày mai và bạn trả lời:

Tsuri-ni iku-to omoimasu.
つりに行くと思います。

để cho biết bạn sẽ đi câu cá, thì người nghe sẽ thấy hơi lúng túng. Mặc dù trong hoàn cảnh này, rõ ràng là bạn đang nói đến bản thân mình, nhưng câu này nghe vẫn khá kì lạ, vì cứ như thể là bạn đang nói về ai khác vậy.
Phải đặc biệt cẩn thận khi muốn nói rằng bạn vẫn chưa biết về dự định của mình. Nếu bạn nói:

Tsuri-ni iku-to omoimasu-ga, yoku shirimasen.
つりに行くと思いますが、よく知りません。

thì nó sẽ khiến người nghe càng thấy khó hiểu hơn vì chắc chắn câu này có nghĩa lf bạn đang nói về dự định của người khác. Thay vào đó bạn nên nói:

Tsuri-ni ikou-ka-to omoimasu-ga, mada yoku wakarimasen.
つりに行こうかと思いますが、まだよく分かりません。

(Tôi nghĩ có lẽ mình sẽ đi câu cá, nhưng tôi vẫn chưa chắc chắn. – từ “ka” được thêm vào sau “ikou” để biểu thị sự không chắc chắn)

NIKKO E IKITAI-DESU : Tôi muốn đi Nikko

1,809 total views, no views today

日光へ行きたいです

(Tôi muốn đi Nikko)

Em gái của Lerner – Margaret viết thư nói rằng cô sẽ tới Nhật Bản vào tháng tới. Tanaka và Yoshida, đồng nghiệp của Lerner, đang tranh luận xem nên đưa cô ấy đi thăm thắng cảnh nào trước. Lerner nhắc lại câu Margeret nói trong thư :

Nikko-e ikitai-desu
Nghĩa là « cô ấy muốn đi Nikko ».

Nhưng chị Yoshida nói : « Ara, Raanaa-san mo?» (Ồ, anh cũng muốn thế à), rõ ràng chị đang nghĩ câu nói của Lerner là “Tôi muốn đi Nikko”. Nhớ lại trước đây Lerner từng được dạy là không nên đề cập đến chủ ngữ của câu trừ khi muốn nhấn mạnh nó. Liệu anh phải bắt đầu câu bằng “Imooto-wa…” (Em gái tôi…) để tránh hiểu lầm?
Thực ra Yoshida đã có thể hiểu đúng ý nếu Lerner nói:

Nikko-e ikitgatte-imasu.
日光へ行きたがっています。
(Cô ấy muốn đến Nikko)

Những từ kết thúc bằng “-tai” biểu thị mong muốn của người nói trong khi kết thúc bằng “-tagaru” thể hiện mong muốn của người khác. Thế nên “ikitai-desu” nghĩa là “tôi muốn đi”, còn “ikitagatte-imasu” nghĩa là “cô ấy/anh ấy/ họ muốn đi”.

Một cách tương tự, những từ thể hiện cảm xúc của người nói thì không được dùng để đề cập đến người thứ ba. Lấy ví dụ, “Ureshii-desu” và “Kanashii-desu” nghĩa là “Tôi thấy vui”/”Tôi đang buồn”; nhưng sẽ không đúng nếu nói “Yoshida-san wa ureshii-desu” hoặc “Imooto wa kanashii-desu”. Khi nói đến người khác, bạn phải thay đổi phần cuối của câu như sau:

Yoshida-san wa ureshi soo-desu
(Chị Yoshida có vẻ vui)

Imooto wa kanashi soo-desu
(Em gái tôi có vẻ buồn)

Một người không thể hiểu rõ cảm xúc của người khác một cách chắc chắn, anh ta chỉ có thể đánh giá qua vẻ bề ngoài. Nói cách khác, trongtiếng Nhật bạn không thể nói là ai đó vui mà chỉ có thể nói là anh ta có vẻ vui.
Quay lại sự khác biệt giữa “ikitai” và “ikitagaru”, về logic cũng như trên, chỉ có người nói mới biết anh ta muốn làm gì, muốn đề cập đến người khác thì phải dùng “tagaru”.

Sự khác biệt trong cách nói đến chính người nói và người khác giúp ta có thể lược bỏ chủ ngữ của câu trong tiếng Nhật mà không bị hiểu lầm.