JITSU-WA : Thật ra,…

6,406 total views, no views today

実は。。。

(Thật ra,…)

Một tối, anh Lerner được ông Okada, một người hàng xóm đến thăm. Ông Okada kể về chuyện thời tiết thay đổi khiến gia đình ông bị ốm hết lượt, sau đó phàn nền về việc giá cả cứ mãi tăng sau mỗi tháng. Ông ấy có vẻ như sẽ tiếp tục kể mãi kể mãi, và anh Lerner bắt đầu tự hỏi làm thế nào để lịch sự hỏi xem ông Okada đến thăm anh có việc gì. Cuối cùng thì ông Okada cũng nói:

Jitsu-wa..
実は。。。
(Thật ra thì,…)

và đi vào công chuyện chính ông muốn bàn với anh. Công chuyện được trao đổi khá nhanh gọn. Thực ra ông Okada còn tốn nhiều thời gian cho đoạn mào đầu hơn là phần chính của câu chuyện.

“Jitsu-wa” mang nghĩa “thực ra” hay “sự thật là”, nhưng trong thực tế nó được dùng khi một người chuẩn bị bắt đầu bàn bạc công việc. Thực chất, nó có nghĩa là :”Tôi sẽ trao đổi công việc bây giờ đây”, “Tôi sắp có một yêu cầu”.
(“Jitsu-ni” = “thực sự”, “rất” và được dùng để nhấn mạnh. “Jitsu-ni omoshiroi desu-ne” = “Điều đó rất thú vị”. Cần chú ý phân biệt “jitsu-ni” và “jitsu-wa”.)

Vài người nghĩ rằng những gì được nói trước câu “Jitsu-wa” không có ý nghĩa quan trọng gì. Điều này cũng đúng thôi, nhưng những câu mở đầu đó thực ra lại đóng một vai trò quan trọng trong giao tiếp.
Hầu hết người Nhật đều cảm thấy cần phải dành một khoản thời gian và công sức kha khá cho việc xây dựng mối quan hệ tốt với một người trước khi bàn chuyện công việc với người đó. Mối quan hệ tốt kiểu này có thể được hình thành khi hai người đồng cảm về một vấn đề nào đó. Vấn đề đó phải được chọn dựa theo cách nhìn nhận này; vì thế nó thường là về thời tiết, gia đình hay tình trạng giá cả đắt đỏ.
“Jitsu-wa” là dấu hiệu bắt đầu công việc, cũng như “Anoo” là dấu hiệu bắt đầu cuộc trò chuyện. Do đó:

Anoo… jitsu-wa… chotto onegai-ga-aru-n-desuga…
あのう。。。実は。。。ちょっとお願いがあるんですが。。。
Xin lỗi, nhưng tôi có thể nhờ anh một việc được không?

ANOO… : Xin lỗi …

415 total views, no views today

あのう…

(Xin lỗi …)

Một chiều nọ có cô gái đến gặp Tanaka lúc đó Lerner đang ở trong phòng khách và quan sát cuộc nói chuyện. Đầu tiên cô gái nói:

Anoo….
(Chà,…/ Này,…)

Và đợi Lerner đáp lại “Hai” trước khi bắt đầu. Cô ấy cũng thường dùngAnoo- trước mỗi câu mới trong suốt cuộc nói chuyện.

Lúc đầu Lerner nghĩ câu này dùng để đệm khi chưa tìm ra câu nói tiếp theo, anh cho rằng người dùng nó thường xuyên là người ít kĩ năng giao tiếp. Nhưng khi anh đề cập điều đó với Tanaka thì anh ấy không đồng tình. Sự thật là Tanaka thích kiểu nói chuyện của cô gái kia vì nó có vẻ khiêm tốn.

Đúng là đôi khi Anoo được dùng khi người nói chưa tìm được từ thích hợp để diễn đạt nhưng đa số trường hợp thì có chủ ý, với nhiều mục đích khác nhau.
Anoo thể hiện rằng người nói chưa sẵn sàng để nói chuyện, đang cảm giác do dự, ngập ngừng. Tạo sự do dự và dè dặt sẽ thích hợp và lịch sự trong một số tình huống nhất định (ví dụ khi nói chuyện với người trên). Cũng nên thể hiện sự do dự khi bạn muốn yêu cầu một điều gì đó, trong trường hợp này Anoo thường theo sau bởi “sumimasen-ga” hoặc “osoreirimasu-ga”.
Anoo dùng một mình thường khơi mào cuộc nói chuyện, thế nên khi ai đó nói “Anoo…” một cách dè dặt thì bạn nên trả lời lại bằng:

Hai” / “Hai, nadesu-ka”
(Tôi có thể giúp gì/ Có chuyện gì thế).

Chứ không nên đợi người đó nói tiếp. Trường hợp này Anoo có thể hiểu theo nghĩa “Xin lỗi, anh có thể nói chuyện với tôi một chút được không”.

Ano-ne hơi khác so với Anoo. Mặc dù cả hai đều thể hiện rằng người nói sắp bắt đầu cuộc hội thoại, Ano-ne thể hiện sự thân thiết nhiều hơn và không thể dùng với người trên. Nó chỉ được dùng trong giao tiếp khi mọi người đã khá thân thiết với nhau.

SHUJIN-GA OSEWA-NI NATTE-ORIMASU : Cảm ơn vì đã giúp đỡ chồng tôi

3,412 total views, no views today

主人がお世話になっております。

(Cảm ơn vì đã giúp đỡ chồng tôi.)

Khi anh Lerner được giới thiệu với chị Takada, vợ một đồng nghiệp của anh, thì cô ấy nói:

Shujin-ga osewa-ni natte-orimasu.
(nghĩa đen: Chồng tôi đã luôn nhận được sự chăm sóc, giúp đỡ của anh.)

Lerner không thực sự hiểu câu này, nhưng anh đoán là cô ấy đang cảm ơn vì việc gì đấy anh đã làm cho chồng cô, và vì thế anh chỉ đáp lại đơn giản: “Iie”.

(Sau đó Lerner được biết rằng trả lời “Iie” cũng không sai, nhưng trong trường hợp này thì “Kochira-koso” mới là thích hợp nhất.)

Danh từ “sewa” có nghĩa là “sự chăm sóc”, “đặc ân”; “Osewa-ni naru” có thể hiểu là “được chăm sóc, được giúp đỡ”.

Người Nhật có thói quen dùng lối nói này khi được giới thiệu với một người quen của một thành viên trong gia đình. Ví dụ, khi người vợ gặp một đồng nghiệp của chồng, cô ấy sẽ nói: “Shujin-ga…”; khi người chồng gặp một đồng nghiệp của vợ, anh ấy sẽ nói: “Kanai-ga…”; và đặc biệt khi bố mẹ gặp giáo viên hay bác sĩ của con, họ sẽ bảy tỏ sự biết ơn: “Kodomo-ga…” (hoặc họ có thể thay “kodomo” bằng tên của đứa con).

Cũng như với các cách diễn đạt khác,cách nói này cũng có thể chỉ đơn giản mang tính hình thức mà thôi. Một người vợ có thể nói “Shujin-ga osewa-ni natte-orimasu” với người quen của chồng kể cả khi cô ấy cảm thấy người nghe không thật sự xứng đáng với lòng biết ơn của cô ấy.

Chúng ta có thể thấy hai quan niệm ẩn sau cấu trúc này.

Một là, người Nhật cảm thấy cực kì cần thiết phải bày tỏ sự biết ơn của họ với những ai đã giúp đỡ những người trong gia đình họ, cứ như thể là chính họ đã nhận được sự giúp đỡ vậy.

Hai là, trạng thái mà liên quan tới ai đó thì nên được thể hiện bằng “osewa-ni naru” bởi vì bạn có thể đang nhận sự giúp đỡ của người ấy mặc dù vào thời điểm đó có thể bạn chưa nhận ra.

KOCHIRA-KOSO : Tôi nên nói thế mới phải

881 total views, 6 views today

こちらこそ

(Tôi nên nói thế mới phải)

Lerner và Tanaka vừa bàn bạc xong công việc với ông Saito và chuẩn bị về, ông Saito chào:

“Doomo shitsureee-shimashita”
どうも しつらえいしました。
(Cảm ơn, đã thất lễ với mọi người rồi).

Lerner đáp lại:

“Doo-itashimashite” (─ ‿ ‿ ─)
どういたしまして。
(Không có gì).

còn anh Tanaka thì:

Koochira-koso.
こちらこそ
(Tôi nên nói thế mới phải)

Cách nói này rất mới đối với Lerner và anh tự hỏi nó có thể so sánh với “Doo-itashimashite” như thế nào, anh định nhờ Tanaka giúp nhưng anh ấy có vẻ bận nên thôi.

“Koochira-koso”, theo nghĩa đen là “phía bên này” hoặc “ở bên tôi”. Dùng trong trường hợp trên, nó thể hiện người nói đang tự trách mình hơn là nhận lời xin lỗi từ ai đó.

“Kochira-koso” và “Doo-itashimashite” đều dùng để đáp lại lời xin lỗi, tuy nhiên có một chút khác biệt giữa 2 diễn đạt này. Lấy ví dụ, khi ai đó với bạn:

Shitsuree-shimashita. ╯.╰

trả lời câu trên với “Doo-itashimashite” sẽ phủ nhận lời xin lỗi của người kia, trong khi “Koochira-koso” sẽ thể hiện rằng chính bạn mới là người thất lễ, và bạn đang trách bản thân mình. Thế nên dùng “Koochira-koso” sẽ thích hợp hơn khi cả bạn và những người khác đều liên quan đến một sự việc nào đó.

Khi ai đó gặp bạn sau một thời gian dài không gặp và nói:

Gobusata-itashimashita
(Xin lỗi vì lâu nay không liên lạc với anh)

thì bạn không nên nói “Doo-itashimashite”, vì nó ngụ ý rằng việc không liên lạc hoàn toàn là lỗi của người kia, hơn nữa, nó cũng thể hiện bạn không mặn mà gì chuyện liên lạc với người kia lắm. Tốt hơn là dùng “Koochira-koso” để tránh thất lễ.

“Koochira-koso” cũng hay được nói khi 2 người gặp nhau lần đầu tiên:

A: Hajimemashite. Doozo yoroshiku.
始めまして。どう ぞよろしく。 ◠◡◠✌
(Rất vui được gặp bạn)

B: Koochira-koso (doozo yoroshiku).
こちらこそ (どうぞよろしく)。 (◡‿ ◡)
(Hân hạnh đó là của tôi mới phải).

OKAGESAMA-DE : Nhờ có anh/chị

2,159 total views, no views today

おかげさまで

(Nhờ có anh/chị)

Một ngày nọ, anh Lerner tới giúp anh Takada sau khi hoàn thành phần việc của mình. Anh Tanaka cảm ơn anh:

Okagesama-de hayaku sumimashita.
おかげさま で 速く 済みました。
(Tôi đã hoàn thành công việc nhanh chóng nhờ có sự giúp đỡ của anh.)

Vài hôm sau, khi Lerner hỏi ông Okada, một người hàng xóm của anh, xem con trai ông ấy có đỗ kì thi đại học không, thì nhận được câu trả lời:

Hai, okagesama-de.
(Vâng, nhờ có anh đấy ạ.)

Lerner cảm thấy lạ khi được cảm ơn, vì anh có làm gì để giúp con trai ông Okada đâu cơ chứ?
“Okagasame-de” được dùng để bày tỏ lòng biết ơn đến một người cụ thể hoặc tất cả nói chung vì đã giúp đỡ người nói.
Một bệnh nhân sau cơn bệnh sẽ nói với bác sĩ chăm sóc mình:

Okagesama-de yoku narimashita.
(Nhờ có bác sĩ mà tôi đã khỏe lên.)

Và thậm chí khi được một người quen hỏi thăm, người bệnh vẫn sẽ nói:

Okagesama-de yoku narimashita.

Anh ta không có ý rằng người quen đó đã giúp anh ấy bình phục; ý của anh ta là: anh cảm thấy biết ơn tới tất cả những nhân tố đã làm nên sự hồi phục của anh, trong đó có cả người quen này.

Cách nói “Okagesama-de” đôi lúc chỉ đơn giản là cách chào hỏi lịch sự:

A: Ogenki-desu-ka. (Anh khỏe chứ ạ?)
B: Okagesama-de. (Vâng, tôi khỏe, cảm ơn anh.)
A: Oshigoto-wa doo-desu-ka. (Công việc của anh thế nào rồi ạ?)
B: Okagesama-de. (Cảm ơn anh. Nó vẫn tốt.)

Tuy nhiên, luôn có sự suy nghĩ ngầm rằng một người nên biết ơn tới sự giúp đỡ của những người khác, mặc dù những người này có thể không nhận thức được mình đã giúp đỡ cái gì. Thậm chí nếu thành công của bạn có hiển nhiên đến từ nỗ lực của chính bản thân bạn đi chăng nữa, thì bạn vẫn nên nhớ tới sự đóng góp của những người khác. Đó là lí do tại sao ông Okada đã nói “Okagesama-de” với Lerner khi ông thông báo rằng con trai ông đã đỗ kì thi.

MOO KAERANAKUCHA : Tôi phải về bây giờ

1,063 total views, no views today

もう かえらなくちゃ

(Tôi phải về bây giờ)

Cách đây vài tuần mọi người tụ tập ở nhà anh Lerner và có một buổi tối vui vẻ cùng nhau. Đến gần 9 giờ thì chị Yoshida nói:

Moo kaeranakucha.
もう 帰らなくちゃ。
(Nghĩa đen: Nếu tôi không về bây giờ.)

Anh Lerner không hiểu lắm nhưng đoán là chị ấy định về nhà.

Từ hôm đó Lerner bắt đầu để ý đến cách người Nhật kết thúc câu và anh nhận ra rằng họ rất hay kết kiểu mở như chị Yoshida – đưa ra điều kiện nhưng không kết luận gì cho điều điện đó.

***

Sau “kaeranakucha” (một dạng của “kaeranakute-wa”) mọi người có thể tự suy thêm thành “narimasen” (không được) hoặc “gia đình tôi sẽ lo lắng”. Thế nên “Moo kaeranakucha” đứng một mình có thể dịch thành “Tôi phải về nhà bây giờ”.

Khi một tình huống nào đó đã hiển nhiên, người Nhật rất hay dùng câu kết mở. Thực tế, họ thấy dài dòng khi phải nói cả câu khi chỉ cần nửa đầu của nó thì người nghe đã hiểu. Vì vậy, khi người Nhật muốn về, họ thường chỉ nói “Sorosoro” (Nghĩa đen: chậm rãi; câu này thay cho “Sorosoro oitoma-itashimasu”, nghĩa là “Tôi về sớm đây”) hoặc “Jaa, korede” (nghĩa đen: “Đến đây thôi”)

Ngày nay học sinh khi ôn thi tự nhủ với mình là “Ganbaranakucha” (Nếu mình không cố gắng). Nghĩa thì chắc đã hiển nhiên rồi, nếu không cố gắng thì bạn sẽ trượt kì thi. Tương tự thế, chúng ta thường nói với bản thân mình:

Ganbaranakucha.
がんばらなくちゃ。

bởi vì nếu chúng ta không cố hết sức, đường tới thành công sẽ dừng lại, và bạn sẽ không còn ở đấy và đọc những dòng này nữa.

OJAMA-SHIMASU : Tôi sắp sửa làm phiền anh/chị

647 total views, 2 views today

おじゃまします

(Tôi sắp sửa làm phiền anh/chị)

Tuần trước một phóng viên tới gặp anh Lerner tại văn phòng để phỏng vấn anh về cuộc sống của một người nước ngoài làm việc tại Nhật. Khi cô ấy tới văn phòng, cô ấy nói:

Ojama-shimasu.
お邪魔します。
(Tôi có thể xin chút thời gian của anh được không? – nghĩa đen: Tôi sắp sửa làm phiền anh.)

Khi xong việc và chuẩn bị đi, cô ấy cúi chào và nói:

Ojama-shimashita.
お邪魔しました。
(Tôi xin lỗi vì đã làm phiền anh.)

Động từ “ojama-suru” có nghĩa là “làm phiền” hoặc “cản trở lối đi của người khác” và trong giao tiếp, nó được dùng để đề cập đến việc nói chuyện, đến thăm một người ở nhà riêng hay ở công sở.

Ta dùng “Ojama-shimasu” khi bắt đầu nói và “Ojama-shimashita” khi kết thúc cuộc nói chuyện và rời đi. Ta cũng thường thêm “chotto” vào trước “Ojama-shimasu” và “doomo” vào trước “Ojama-shimashita”.

Chotto ojama-shimasu.
(Tôi có thể làm phiền anh một chút được không?)

Doomo ojama-shimashita.
(Tôi rất xin lỗi vì đã làm phiền anh.)

Các cách nói tương tự là “Shitsuree-shimasu” (Xin phép thất lễ với anh/chị) và “Shitsuree-shimashita” (Tôi đã thất lễ rồi). Vì rời đi là một hành động “thất lễ” nên trước khi đi khỏi, ta có thể nói:

Doomo shitsuree-shimashita. Dewa kore-de shitsuree-shimasu.
(Tôi rất xin lỗi vì đã làm phiền anh/chị. Giờ thì tôi xin phép được thất lễ.)

Như vậy, “shitsuree” còn được dùng khi đề cập đến việc rời đi, còn “ojama-suru” chỉ được dùng để nói về việc bắt đầu và kết thúc câu chuyện.

OCHA-O DOOZO : Mời anh/chị uống trà

1,181 total views, 2 views today

お茶を どうぞ

(Mời anh/chị uống trà)


Một ngày nọ Lerner đến thăm Tanaka. Vợ anh Tanaka ra đón và cố gắng giúp Lerner thấy thoải mái, tuy rằng chị không nói gì nhiều. Sau này khi nghĩ lại những gì chị nói, anh nhận ra rằng tất cả mọi câu đều kết thúc bằng “doozo”.
Khi anh vào tới “genkan” (lối vào), chị nói “Doozo”, nghĩa là “Mời anh vào”. Khi chị dẫn anh vào phòng và cho anh cái “zabuton” (đệm của Nhật) để ngồi, chị cũng nói “doozo”. Khi mang trà đến, chị nói “Ocha-o doozo”, rồi “Moo sukoshi doozo” khi chị mời anh ăn kẹo. Lúc anh về, chị lại nói “Matadoozo” (Hôm khác lại đến chơi nhé). Không một câu nào trong này có động từ.
***
Người Nhật có xu hướng tránh nói những điều có thể hiểu được mà không cần đề cập đến, cho nên câu có động từ có thể hiểu từ chị Tanaka là:

どうぞ。
Doozo (agatte-kudasai, hoặc o-agari-kudasai)
Mời anh vào.

Doozo (zabunton-o-ate-kudasai, hoặc lịch sự hơn: oshiki-kudasai).
Ngồi trên tấm đệm này nhé.

Ocha-o doozo (nonde-sudasai, hoặc meshiagatte-kudasai).
Uống chút trà nhé.

また どうぞ。
Mata doozo (kite-kudasai, hoặc lịch sự: oide-kudasai).
Hôm nào tới nữa nhé.

Trong những câu trên, doozo thay thế cho tất cả các động từ khi mà chủ ý của người nói đã rõ ràng. Câu nói kết thúc bằng “doozo” thể hiện sự giữ ý và nghe lịch sự hơn đối với người Nhật.
Nếu bạn để ý thì khi người Nhật sử dụng câu với “doozo”, họ thường làm rõ mục đích câu nói bằng việc cúi người hoặc một số cử chỉ khác.

TAIHEN-DESU-NE : Vất vả nhỉ!

3,198 total views, no views today

大変ですね

(Vất vả nhỉ!)

Chiều thứ 6 nọ, anh Lerner đã kết thúc công việc và chuẩn bị về, lúc đó Tanaka vẫn đang làm. Đang không biết bày tỏ sự thông cảm của mình như thế nào cho thích hợp thì chị Yoshida đi tới và nói:

Taihen-desu-ne.
大変ですね。
(Anh vất vả quá!)

Tanaka mỉm cười, nói cũng đã gần xong và rằng chị đừng lo lắng cho anh ấy.

Mấy ngày sau, vào một buổi sáng khá lạnh, Lerner thấy hàng xóm của mình – anh Okada đang bận rộn với việc rửa xe. Anh thử dùng lại cấu trúc mà mình vừa học được, có vẻ nó rất có tác dụng vì Okada mỉm cười thân thiện và nói:

Raanaa-san-koso, samui-noni taihen-desu-ne.
らあなあさんこそ、寒いのに大変でエスね。

(Anh chắc cũng rất mệt vì trời lạnh thế này.)

Từ “taihen” mang nghĩa “bất thường” hoặc “kinh khủng”; nó cũng mang nghĩa “một công việc khó khăn” hay “trải nghiệm khinh khủng”. Bạn có thể dùng để diễn đạt trạng thái hoặc trải nghiệm cá nhân của mình, ví dụ:

Mainichi taihen-desu.
毎日大変です。
(Hằng ngày tôi rất bận rộn)

Kinoo-wa taihen-deshita.
きのうは大変でした。
(Hôm qua thật là kinh khủng)

Kiểu nói “taihen-desu-ne” được dùng rất thường xuyên trong các đối thoại hàng ngày để thể hiện sự thông cảm và quan tâm. Bạn có thể để ý thấy người Nhật hay nói câu này với những người làm việc vất vả – nhân viên làm qua giờ, học sinh học chăm chỉ để đạt điểm cao vào đại học, các phục vụ viên trong giờ chạy bàn và tương tự.

Người Nhật thích sự cần cù chăm chỉ, và họ thích thể hiện sự tôn trọng đối với nó, kể cả khi ai đó làm thế chỉ vì lợi ích cá nhân. Đó cũng là cách họ xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với mọi người bằng cách thể hiện sự quan tâm và cảm thông của mình, nhất là với những người làm việc chăm chỉ.

ITTE-IRASSHAI : Hãy đi rồi quay về nhé

1,160 total views, 2 views today

いって(い)らっしゃい。

(Hãy đi rồi quay về nhé.)

Một buổi sáng khi anh Lerner đang vội vã đi ra nhà ga thì gặp hàng xóm của anh – bà Okada, đang quét con đường trước nhà bà. Bà nhìn thấy anh Lerner và nói với anh:

Itte-(i)rasshai.
(Chúc anh một ngày vui vẻ. – nghĩa đen: Anh đi rồi lại về nhé.)

Lerner không biết đáp lại câu chào hỏi này như thế nào nên anh chỉ trả lời đơn giản: “Sayoonara”, mặc dù tự anh cũng cảm thấy nó chưa đúng lắm. Sau đó ở văn phòng, anh Takada đã cho Lerner biết rằng, đáng lẽ anh phải nói:

Itte-mairimasu hoặc Itte-kimasu.
いってまいります。 / いってきます。
(Vâng, tôi sẽ đi rồi trở về ạ.)

“Itte-(i)rasshai” và “Itte-mairimasu” (hoặc “Itte-kimasu”) được nói với nhau trong một gia đình khi một thành viên rời khỏi nhà. Ở Nhật có phong tục là người sắp ra ngoài sẽ nói “Itte-mairimasu” hoặc “Itte-kimasu” (câu sau kém lịch sự hơn), và những người ở nhà sẽ nói “Itte-(i)rasshai” (◡‿◡✿)

Những cách này cũng được dùng giữa những người không cùng một nhà khi họ cảm thấy đủ thân thiết và họ thuộc về cùng một nhóm. Tất nhiên khái niệm “nhóm” với mỗi người là khác nhau, nhưng thường thì những người thuộc cùng một khu phố hay cùng một công ty thì được coi là cùng nhóm. Vì thế, cặp câu này sẽ được sử dụng khi một người hàng xóm hay một đồng nghiệp tạm thời đi đâu đó.

Không dùng “Sayoonara” (Tạm biệt) với các thành viên trong gia đình trừ khi bạn nghĩ rằng bạn sẽ không gặp lại họ nữa. Nếu một người chồng nói “Sayoonara” với vợ mình trước khi đi, thì có nghĩa là anh ta sẽ không còn sống cùng cô ấy nữa (ㄒoㄒ)

Khi một người trong gia đình trở về nhà, anh ta sẽ nói:

Tadaima.
ただいま。
(Tôi đã về đây.)

và người nhà của anh ấy sẽ đáp lại:

Okaerinasai.
お帰りなさい。
(Mừng anh đã về nhà.)

Trong tiếng Anh, người ta sử dụng khá nhiều cách diễn đạt trong tình huống kiểu như thế này, nhưng trong tiếng Nhật, các cặp câu cố định được dùng trong từng tình huống cụ thể. Những người trong một nhà thì không nói với nhau những câu như “Konnichiwa”, “Konbanwa” hay “Sayoonara” .